Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu
Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2013 (VBF 2013) diễn ra
sáng nay, 3/6 tại Hà Nội. Báo Đầu tư điện tử - baodautu.vn ghi nhận ý
kiến của một số nhà quản trị, các Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại
Việt Nam về quá trình cổ phần hóa, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế
- Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Bất chấp các khó khăn, trong năm vừa qua, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một tinh thần kinh doanh kiên cường của các doanh nghiệp.
Tinh thần kinh doanh này rất đáng tự hào và cần được tiếp tục nuôi dưỡng. Cách nuôi dưỡng tốt nhất là phải có nền kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, các chính sách, thủ tục hành chính thuận tiện, thân thiện với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mong muốn Chính phủ kiên định đối với các mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt, song không bền vững.
Những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chủ yếu đến từ những vấn đề nội tại. Do vậy, Chính phủ cần ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn.
Minh bạch trong cổ phần hóa để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập
Ông Kim Jung In, Chủ tịch Korcham
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế ở Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho khối tư nhân, Chính phủ cần tiếp tục cam kết xúc tiến quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với những biện pháp quyết liệt.
Đặc biệt, vì nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của DNNN, nên quá trình này cần phải rõ ràng, minh bạch để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập.
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiến hành tái cơ cấu ngành ngân hàng theo lộ trình, để tránh việc các ngân hàng thương mại trong nước rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tái cơ cấu DNNN và ngành ngân hàng phải thực hiện đồng thời. Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế
- Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Bất chấp các khó khăn, trong năm vừa qua, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một tinh thần kinh doanh kiên cường của các doanh nghiệp.
Tinh thần kinh doanh này rất đáng tự hào và cần được tiếp tục nuôi dưỡng. Cách nuôi dưỡng tốt nhất là phải có nền kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, các chính sách, thủ tục hành chính thuận tiện, thân thiện với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mong muốn Chính phủ kiên định đối với các mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt, song không bền vững.
Những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chủ yếu đến từ những vấn đề nội tại. Do vậy, Chính phủ cần ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn.
Minh bạch trong cổ phần hóa để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập
Ông Kim Jung In, Chủ tịch Korcham
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế ở Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho khối tư nhân, Chính phủ cần tiếp tục cam kết xúc tiến quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với những biện pháp quyết liệt.
Đặc biệt, vì nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của DNNN, nên quá trình này cần phải rõ ràng, minh bạch để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập.
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiến hành tái cơ cấu ngành ngân hàng theo lộ trình, để tránh việc các ngân hàng thương mại trong nước rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tái cơ cấu DNNN và ngành ngân hàng phải thực hiện đồng thời. Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Niềm tin của doanh nghiệp đang trở lại
Hôm qua (ngày 30/5), Quốc hội đã hoàn thành thảo luận tại
Hội trường về tình hình kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2013. Trao
đổi với phóng viên Báo Đầu tư, TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam bày tỏ sự
lạc quan hơn về tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Thưa ông, so với hồi đầu năm, dường như ông có vẻ lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh?
Hồi đầu năm, tôi rất lo ngại trước thực trạng nhiều doanh nghiệp (DN) có tâm lý buông xuôi, chờ thời, co cụm. Nếu tâm lý này lan rộng và trở thành xu hướng thì rất đáng lo ngại.
Bởi một khi DN - lực lượng lòng cốt để phát triển kinh tế - mà buông xuôi, thì các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, mà cụ thể ở đây là Nghị quyết 02/NQ-CP được Chính phủ ban hành từ đầu năm, sẽ chẳng đạt nhiều hiệu quả.
Song rất mừng là tâm lý tiêu cực trên đã giảm, thậm chí tôi còn thấy niềm tin của DN đối với thị trường, đối với các giải pháp mà Chính phủ đã đặt ra và đang thực hiện từng bước bắt đầu có dấu hiệu quay trở lại.
Căn cứ vào đâu mà ông cho rằng, niềm tin của DN có dấu hiệu quay trở lại?
Trong tháng 5, cả nước có hơn 7.200 DN thành lập mới, với số vốn đăng ký hơn 33.000 tỷ đồng, cho dù giảm 11% về số DN và 25% về vốn đăng ký so với tháng 4, nhưng tính chung 5 tháng đầu năm, số DN thành lập mới vẫn tăng gần 5% so với cùng kỳ năm 2012.
Điều đáng nói, đây là lần đầu tiên kể từ đầu năm, số DN đăng ký mới tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Cũng trong tháng 5 này, cả nước chỉ có 570 DN giải thể và 3.020 DN ngừng hoạt động, giảm theo mức tương ứng 27% và 15% so với tháng trước. Bên cạnh đó, trong vòng 30 ngày vừa qua, đã có thêm hơn 500 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại thị trường, nâng tổng số DN quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến nay lên con số 8.792.
Cho dù số DN thành lập mới và hoạt động trở lại chưa nhiều, nhưng là dấu hiệu đáng mừng cho thấy, bước đầu, niềm tin của DN đã quay trở lại.
Dẫu sao thì những con số trên chưa nói lên nhiều điều, thưa ông?
Nếu chỉ nhìn đơn thuần vào số DN thành lập mới; DN giải thể, phá sản; DN quay trở lại hoạt động thì quả thật cũng chưa nói lên nhiều điều. Song nếu phân tích kỹ thì mới thấy số liệu trên rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Cụ thể, số DN thành lập mới 3 tháng đầu năm giảm tới 14%, so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm chỉ còn giảm không đáng kể (1,2%) và đến 5 tháng đầu năm số DN thành lập mới đã tăng gần 5% so với cùng kỳ. Tương tự, số DN tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm cao hơn 26% so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm cao hơn gần 17%, nhưng đến 5 tháng đầu năm, số DN tạm ngừng hoạt động chỉ còn cao hơn 13% so với cùng kỳø năm 2012.
Nhưng số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5 bắt đầu giảm so với 4 tháng đầu năm?
Theo số liệu Chính phủ báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5 này, thì trong 4 tháng đầu năm nay, có 8.300 DN tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 đã hoạt động trở lại, tức là bình quân mỗi tháng có hơn 2.000 DN quay trở lại hoạt động, gấp khoảng 4 lần so với số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5. Một điều đáng mừng là, số DN công nghiệp chế biến, chế tạo quay trở lại hoạt động khá lớn.
Như vậy có thể nói, những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường mà Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu phát huy hiệu quả?
Những giải pháp mà Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP trên thực tế là nhằm mục tiêu vực dậy niềm tin của DN vào thị trường, vào sự điều hành của Chính phủ và các bộ ngành, địa phương. Tôi nhấn mạnh rằng, các giải pháp đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP rất đúng, rất trúng, rất kịp thời, rất đồng bộ, nhưng trong 2-3 tháng đầu năm triển khai hơi chậm, khiến niềm tin của DN có phần lung lay.
Việc triển khai chậm Nghị quyết 02/NQ-CP cũng có nguyên nhân khách quan là gần như cả tháng 2 hoạt động sản xuất - kinh doanh bị ngưng trệ do rơi vào dịp Tết Nguyên đán. Rất mừng, việc triển khai các giải pháp đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu được thực hiện kể từ tháng 3, nên niềm tin của DN đã được cải thiện, dù chưa nhiều, nhưng cũng góp phần tạo nên hy vọng mới cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng còn lại của năm 2013, năm 2014 và 2015 để có thể hy vọng vào việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015.
Tôi muốn nói thêm rằng, niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh mới chỉ bắt đầu quay trở lại, chưa tạo ra cú hích, chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực ở mức độ đột phá.
Để tiếp tục khôi phục, củng cố niềm tin cho DN, theo tôi, từ nay đến cuối năm không cần phải đặt ra các chính sách gì mới nữa, thay vào đó phải triển khai quyết liệt, đồng bộ tất cả các giải pháp đã được đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP. - Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Thưa ông, so với hồi đầu năm, dường như ông có vẻ lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh?
Hồi đầu năm, tôi rất lo ngại trước thực trạng nhiều doanh nghiệp (DN) có tâm lý buông xuôi, chờ thời, co cụm. Nếu tâm lý này lan rộng và trở thành xu hướng thì rất đáng lo ngại.
Bởi một khi DN - lực lượng lòng cốt để phát triển kinh tế - mà buông xuôi, thì các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, mà cụ thể ở đây là Nghị quyết 02/NQ-CP được Chính phủ ban hành từ đầu năm, sẽ chẳng đạt nhiều hiệu quả.
Song rất mừng là tâm lý tiêu cực trên đã giảm, thậm chí tôi còn thấy niềm tin của DN đối với thị trường, đối với các giải pháp mà Chính phủ đã đặt ra và đang thực hiện từng bước bắt đầu có dấu hiệu quay trở lại.
Căn cứ vào đâu mà ông cho rằng, niềm tin của DN có dấu hiệu quay trở lại?
Trong tháng 5, cả nước có hơn 7.200 DN thành lập mới, với số vốn đăng ký hơn 33.000 tỷ đồng, cho dù giảm 11% về số DN và 25% về vốn đăng ký so với tháng 4, nhưng tính chung 5 tháng đầu năm, số DN thành lập mới vẫn tăng gần 5% so với cùng kỳ năm 2012.
Điều đáng nói, đây là lần đầu tiên kể từ đầu năm, số DN đăng ký mới tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Cũng trong tháng 5 này, cả nước chỉ có 570 DN giải thể và 3.020 DN ngừng hoạt động, giảm theo mức tương ứng 27% và 15% so với tháng trước. Bên cạnh đó, trong vòng 30 ngày vừa qua, đã có thêm hơn 500 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại thị trường, nâng tổng số DN quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến nay lên con số 8.792.
Cho dù số DN thành lập mới và hoạt động trở lại chưa nhiều, nhưng là dấu hiệu đáng mừng cho thấy, bước đầu, niềm tin của DN đã quay trở lại.
Dẫu sao thì những con số trên chưa nói lên nhiều điều, thưa ông?
Nếu chỉ nhìn đơn thuần vào số DN thành lập mới; DN giải thể, phá sản; DN quay trở lại hoạt động thì quả thật cũng chưa nói lên nhiều điều. Song nếu phân tích kỹ thì mới thấy số liệu trên rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Cụ thể, số DN thành lập mới 3 tháng đầu năm giảm tới 14%, so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm chỉ còn giảm không đáng kể (1,2%) và đến 5 tháng đầu năm số DN thành lập mới đã tăng gần 5% so với cùng kỳ. Tương tự, số DN tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm cao hơn 26% so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm cao hơn gần 17%, nhưng đến 5 tháng đầu năm, số DN tạm ngừng hoạt động chỉ còn cao hơn 13% so với cùng kỳø năm 2012.
Nhưng số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5 bắt đầu giảm so với 4 tháng đầu năm?
Theo số liệu Chính phủ báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5 này, thì trong 4 tháng đầu năm nay, có 8.300 DN tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 đã hoạt động trở lại, tức là bình quân mỗi tháng có hơn 2.000 DN quay trở lại hoạt động, gấp khoảng 4 lần so với số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5. Một điều đáng mừng là, số DN công nghiệp chế biến, chế tạo quay trở lại hoạt động khá lớn.
Như vậy có thể nói, những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường mà Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu phát huy hiệu quả?
Những giải pháp mà Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP trên thực tế là nhằm mục tiêu vực dậy niềm tin của DN vào thị trường, vào sự điều hành của Chính phủ và các bộ ngành, địa phương. Tôi nhấn mạnh rằng, các giải pháp đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP rất đúng, rất trúng, rất kịp thời, rất đồng bộ, nhưng trong 2-3 tháng đầu năm triển khai hơi chậm, khiến niềm tin của DN có phần lung lay.
Việc triển khai chậm Nghị quyết 02/NQ-CP cũng có nguyên nhân khách quan là gần như cả tháng 2 hoạt động sản xuất - kinh doanh bị ngưng trệ do rơi vào dịp Tết Nguyên đán. Rất mừng, việc triển khai các giải pháp đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu được thực hiện kể từ tháng 3, nên niềm tin của DN đã được cải thiện, dù chưa nhiều, nhưng cũng góp phần tạo nên hy vọng mới cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng còn lại của năm 2013, năm 2014 và 2015 để có thể hy vọng vào việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015.
Tôi muốn nói thêm rằng, niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh mới chỉ bắt đầu quay trở lại, chưa tạo ra cú hích, chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực ở mức độ đột phá.
Để tiếp tục khôi phục, củng cố niềm tin cho DN, theo tôi, từ nay đến cuối năm không cần phải đặt ra các chính sách gì mới nữa, thay vào đó phải triển khai quyết liệt, đồng bộ tất cả các giải pháp đã được đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP. - Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Nguy cơ “thua trên sân nhà” vì hạn mức chi phí tiếp thị
Phiên thảo luận tại Quốc hội hôm 29/5 về Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp sửa đổi đã ghi nhận nhiều tiếng nói đề nghị bỏ hạn mức tiếp
thị quảng cáo, cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
Không nên “một mình một chợ”
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) cho biết cơ bản tán thành việc nâng mức khống chế đối với chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới từ 10% lên 15%, tuy nhiên có “ba đề nghị”.
Thứ nhất, cần quy định lộ trình tiến tới bỏ mức khống chế nêu trên để phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, quy định mức khống chế được trừ theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo để tránh sự phức tạp trong tính toán, đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch.
Thứ ba, bổ sung quy định về tỷ lệ khống chế đối với lĩnh vực kinh doanh đặc thù, các mặt hàng độc quyền, không cần phải chi phí cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị như điện, xăng dầu, kinh doanh nước sạch.
“Việc quy định chung tỷ lệ khống chế quảng cáo của các mặt hàng độc quyền với các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có tính cạnh tranh sẽ không đảm bảo tính công bằng”, bà nói.
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cũng đồng tình với nâng từ 10 lên 15%, tuy nhiên ông nhận thấy vẫn chưa hợp lý bởi vì nếu quy định 15% với doanh nghiệp lớn thì đủ nhưng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập thì vẫn không đủ.
“Tôi đề nghị sửa theo hướng theo tỷ lệ % mà chúng ta sản xuất kinh doanh, % theo doanh thu, tính tỷ lệ % thì hợp lý hơn. Nếu chúng ta ấn định 15% thì doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí. Hướng tương lai của thế giới là người ta bỏ cái này, doanh nghiệp tự quyết định", đại biểu Thuyền nói.
Đáng chú ý là những ý kiến đến từ các đại biểu - doanh nhân, những người cảm nhận rõ nhất về những vướng mắc do quy định khống chế hạn mức hiện hành.
Theo đại biểu Mai Hữu Tín (Bình Dương), việc tăng mức khống chế từ 10 lên 15% theo dự thảo là “một bước tiến sau rất nhiều than phiền của doanh nghiệp từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời”.
Tuy nhiên, ông Tín không cho rằng việc bỏ tỷ lệ khống chế sẽ làm giảm nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách. Doanh nghiệp buộc phải chi các khoản này để tồn tại, để cạnh tranh được, để tăng thị phần và để gia tăng lợi nhuận của chính họ. Không có lý do gì để chi tiền nhiều hơn nhằm giảm lợi nhuận của họ và dẫn đến giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
“Thực tế những doanh nghiệp trong một số ít ngành hàng mới cần chi ở mức cao, trong khi đại đa số doanh nghiệp không cần chi nhiều. Đặt ra giới hạn tỷ lệ chi trong khi hầu hết các nước không áp dụng theo tôi không phải là một cách làm hay mà còn tự trói tay các doanh nghiệp của chúng ta trong cạnh tranh thay vì hỗ trợ cho họ. Tôi đề nghị chúng ta bỏ tỷ lệ khống chế đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại ngay trong lần sửa đổi này”, ông Tín nói.
Giải pháp dung hòa
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng hiểu rằng việc bỏ ngay quy định này là một thử thách khó vượt qua, đặc biệt trong bối cảnh nguồn thu sụt giảm hiện nay. Chính vì vậy, họ đề nghị có giải pháp dung hòa là áp tỷ lệ hạn chế trên % doanh thu thay vì % trên chi phí hợp lý.
Đại biểu - doanh nhân Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng trên thế giới hiện nay chỉ có hai nước áp dụng khống chế tỷ lệ phần trăm trên doanh nghiệp là Trung Quốc và Lithuania. Nếu khống chế tỷ lệ phần trăm như dự thảo thì vừa phức tạp, vừa khó khăn cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu của mình, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hãng nước ngoài bán hàng vào thị trường của ta có tiềm lực mạnh, thương hiệu lớn và có nguồn lực tài trợ từ công ty mẹ nước ngoài tài trợ cho họ để chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp nước ta.
“Doanh nghiệp Việt Nam có thể bị thua ngay trên sân nhà, bởi chính những quy định của chúng ta”, vị đại biểu đang điều hành một hãng bia, nơi cần chi lớn cho tiếp thị quảng cáo hàng năm, nói.
Cũng từ góc nhìn doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cho rằng trên thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, sản phẩm cũng khác nhau nên nhu cầu về quảng cáo, tiếp thị cũng hoàn toàn không giống nhau, chẳng hạn kinh doanh bia, mỹ phẩm sẽ có chi phí quảng cáo khác với sản xuất đồ tiêu dùng, thực phẩm.
Việc quy định một tỷ lệ chung cho các ngành hàng, theo bà Hường, không những bất cập trên thực tế mà còn kiềm chế việc bán hàng và kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác chi phí được trừ chỉ đến cuối năm hay quý 1 của năm sau doanh nghiệp mới có thể biết được chính xác bao nhiêu. Do đó doanh nghiệp cũng không tính được kế hoạch chi quảng cáo cụ thể.
“Tôi đề nghị ban soạn thảo xem xét để có thể điều chỉnh chi phí quảng cáo hoa hồng để tính trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thay vì tính trên tổng số chi phí được trừ như dự thảo luật để đảm bảo tính chủ động cho doanh nghiệp”, bà Hường nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, ông Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) cũng cho rằng nên quy định về chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới theo tỷ lệ % trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo luật để đảm bảo tính minh bạch, dễ hạch toán.
Không nên “một mình một chợ”
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) cho biết cơ bản tán thành việc nâng mức khống chế đối với chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới từ 10% lên 15%, tuy nhiên có “ba đề nghị”.
Thứ nhất, cần quy định lộ trình tiến tới bỏ mức khống chế nêu trên để phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, quy định mức khống chế được trừ theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo để tránh sự phức tạp trong tính toán, đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch.
Thứ ba, bổ sung quy định về tỷ lệ khống chế đối với lĩnh vực kinh doanh đặc thù, các mặt hàng độc quyền, không cần phải chi phí cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị như điện, xăng dầu, kinh doanh nước sạch.
“Việc quy định chung tỷ lệ khống chế quảng cáo của các mặt hàng độc quyền với các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có tính cạnh tranh sẽ không đảm bảo tính công bằng”, bà nói.
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cũng đồng tình với nâng từ 10 lên 15%, tuy nhiên ông nhận thấy vẫn chưa hợp lý bởi vì nếu quy định 15% với doanh nghiệp lớn thì đủ nhưng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập thì vẫn không đủ.
“Tôi đề nghị sửa theo hướng theo tỷ lệ % mà chúng ta sản xuất kinh doanh, % theo doanh thu, tính tỷ lệ % thì hợp lý hơn. Nếu chúng ta ấn định 15% thì doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí. Hướng tương lai của thế giới là người ta bỏ cái này, doanh nghiệp tự quyết định", đại biểu Thuyền nói.
Đáng chú ý là những ý kiến đến từ các đại biểu - doanh nhân, những người cảm nhận rõ nhất về những vướng mắc do quy định khống chế hạn mức hiện hành.
Theo đại biểu Mai Hữu Tín (Bình Dương), việc tăng mức khống chế từ 10 lên 15% theo dự thảo là “một bước tiến sau rất nhiều than phiền của doanh nghiệp từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời”.
Tuy nhiên, ông Tín không cho rằng việc bỏ tỷ lệ khống chế sẽ làm giảm nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách. Doanh nghiệp buộc phải chi các khoản này để tồn tại, để cạnh tranh được, để tăng thị phần và để gia tăng lợi nhuận của chính họ. Không có lý do gì để chi tiền nhiều hơn nhằm giảm lợi nhuận của họ và dẫn đến giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
“Thực tế những doanh nghiệp trong một số ít ngành hàng mới cần chi ở mức cao, trong khi đại đa số doanh nghiệp không cần chi nhiều. Đặt ra giới hạn tỷ lệ chi trong khi hầu hết các nước không áp dụng theo tôi không phải là một cách làm hay mà còn tự trói tay các doanh nghiệp của chúng ta trong cạnh tranh thay vì hỗ trợ cho họ. Tôi đề nghị chúng ta bỏ tỷ lệ khống chế đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại ngay trong lần sửa đổi này”, ông Tín nói.
Giải pháp dung hòa
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng hiểu rằng việc bỏ ngay quy định này là một thử thách khó vượt qua, đặc biệt trong bối cảnh nguồn thu sụt giảm hiện nay. Chính vì vậy, họ đề nghị có giải pháp dung hòa là áp tỷ lệ hạn chế trên % doanh thu thay vì % trên chi phí hợp lý.
Đại biểu - doanh nhân Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng trên thế giới hiện nay chỉ có hai nước áp dụng khống chế tỷ lệ phần trăm trên doanh nghiệp là Trung Quốc và Lithuania. Nếu khống chế tỷ lệ phần trăm như dự thảo thì vừa phức tạp, vừa khó khăn cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu của mình, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hãng nước ngoài bán hàng vào thị trường của ta có tiềm lực mạnh, thương hiệu lớn và có nguồn lực tài trợ từ công ty mẹ nước ngoài tài trợ cho họ để chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp nước ta.
“Doanh nghiệp Việt Nam có thể bị thua ngay trên sân nhà, bởi chính những quy định của chúng ta”, vị đại biểu đang điều hành một hãng bia, nơi cần chi lớn cho tiếp thị quảng cáo hàng năm, nói.
Cũng từ góc nhìn doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cho rằng trên thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, sản phẩm cũng khác nhau nên nhu cầu về quảng cáo, tiếp thị cũng hoàn toàn không giống nhau, chẳng hạn kinh doanh bia, mỹ phẩm sẽ có chi phí quảng cáo khác với sản xuất đồ tiêu dùng, thực phẩm.
Việc quy định một tỷ lệ chung cho các ngành hàng, theo bà Hường, không những bất cập trên thực tế mà còn kiềm chế việc bán hàng và kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác chi phí được trừ chỉ đến cuối năm hay quý 1 của năm sau doanh nghiệp mới có thể biết được chính xác bao nhiêu. Do đó doanh nghiệp cũng không tính được kế hoạch chi quảng cáo cụ thể.
“Tôi đề nghị ban soạn thảo xem xét để có thể điều chỉnh chi phí quảng cáo hoa hồng để tính trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thay vì tính trên tổng số chi phí được trừ như dự thảo luật để đảm bảo tính chủ động cho doanh nghiệp”, bà Hường nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, ông Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) cũng cho rằng nên quy định về chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới theo tỷ lệ % trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo luật để đảm bảo tính minh bạch, dễ hạch toán.
Tài sản sếp HSG tăng 170 tỷ đồng sau "thương vụ" Nick Vujicic
Kết thúc phiên giao dịch buổi sáng 24/5, giá cổ phiếu của Công
ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (HSG-HOSE) tăng mạnh lên 49.000 đồng/cổ
phiếu, đưa vốn hóa thị trường của công ty lên 4.938 tỷ đồng.
Điều thú vị là trong 4 phiên giao dịch gần đây, trùng hợp với sự kiện chàng trai khuyết tật Nick Vujicic đến Việt Nam với sự tài trợ của HSG, giá cổ phiếu HSG liên tục tăng từ 45.000 đồng lên 49.000 đồng/cổ phiếu, tính đến hết phiên buổi sáng 24/5. Tương ứng với giá cổ phiếu tăng, vốn hóa thị trường của HSG đã tăng thêm hơn 400 tỷ đồng.
Với tỷ lệ nắm giữ gần 43 triệu cổ phiếu HSG, tương đương gần 43% cổ phần, tài sản tính theo vốn hóa thị trường của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HSG, tăng thêm hơn 170 tỷ đồng, sau 4 ngày.
Tương tự, cổ đông tổ chức Red River Holding, nắm gần 16% cổ phần HSG, cũng ghi nhận mức vốn hóa tài sản tăng thêm 64 tỷ đồng, tương đương hơn 3 triệu USD.
Theo lãnh đạo HSG, tập đoàn này đã chi tổng cộng 35 tỷ đồng cho sự kiện Nick Vujicic đến Việt Nam.
Được biết, trong 6 tháng niên độ tài chính 2012-2013, sản lượng tiêu thụ của HSG đạt 276.068 tấn, hoàn thành 51% kế hoạch năm; doanh thu thuần đạt 5.296 tỷ đồng, hoàn thành 48,1% kế hoạch năm; lợi nhuận sau thuế đạt 350,2 tỷ đồng, hoàn thành 87,6% kế hoạch năm.
Điều thú vị là trong 4 phiên giao dịch gần đây, trùng hợp với sự kiện chàng trai khuyết tật Nick Vujicic đến Việt Nam với sự tài trợ của HSG, giá cổ phiếu HSG liên tục tăng từ 45.000 đồng lên 49.000 đồng/cổ phiếu, tính đến hết phiên buổi sáng 24/5. Tương ứng với giá cổ phiếu tăng, vốn hóa thị trường của HSG đã tăng thêm hơn 400 tỷ đồng.
Với tỷ lệ nắm giữ gần 43 triệu cổ phiếu HSG, tương đương gần 43% cổ phần, tài sản tính theo vốn hóa thị trường của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HSG, tăng thêm hơn 170 tỷ đồng, sau 4 ngày.
Tương tự, cổ đông tổ chức Red River Holding, nắm gần 16% cổ phần HSG, cũng ghi nhận mức vốn hóa tài sản tăng thêm 64 tỷ đồng, tương đương hơn 3 triệu USD.
Theo lãnh đạo HSG, tập đoàn này đã chi tổng cộng 35 tỷ đồng cho sự kiện Nick Vujicic đến Việt Nam.
Được biết, trong 6 tháng niên độ tài chính 2012-2013, sản lượng tiêu thụ của HSG đạt 276.068 tấn, hoàn thành 51% kế hoạch năm; doanh thu thuần đạt 5.296 tỷ đồng, hoàn thành 48,1% kế hoạch năm; lợi nhuận sau thuế đạt 350,2 tỷ đồng, hoàn thành 87,6% kế hoạch năm.
Nghị trường nóng với chi phí tiếp thị, quảng cáo
Một
trong những nội dung gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình sửa đổi
bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp là vấn đề hạn mức chi phí tiếp
thị, quảng cáo.
Trong các buổi thảo luận tổ tại Quốc hội chiều 21/5, vấn đề này lại được làm nóng bởi các ý kiến đến từ các đại biểu, đặc biệt là các đại biểu doanh nhân.
Theo tờ trình của Chính phủ về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, dự thảo luật có quy định nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế.
Trong thời gian qua, các hiệp hội doanh nghiệp liên tục đưa ra các ý kiến phản đối, yêu cầu bỏ hẳn quy định khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Bộ Tài chính khó tiếp thu đề nghị này mà vẫn bảo lưu quan điểm “nới lỏng” hơn là “bỏ hẳn”.
Các đại biểu Quốc hội dường như cũng cảm nhận được cái khó của Bộ Tài chính nên trong các buổi thảo luận tại tổ, các ý kiến góp ý đã đưa ra giải pháp dung hòa là đề nghị áp dụng tỷ lệ 15% trên doanh thu thay vì 15% trên chi phí hợp lý. Đây chính là cách thức đang được áp dụng tại Trung Quốc và theo các đại biểu, quy định như vậy sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu Trần Du Lịch, cần thiết phải có khống chế mức chi quảng cáo tiếp thị mặc dù hiện nay mức 15% chỉ có một số nước áp dụng, tuy nhiên nếu tính 15% trên doanh thu thì “phù hợp hơn”.
Đại biểu Phạm Huy Hùng, (Hà Nội) cho rằng nên cân nhắc lại mức khống chế 15% trên tổng chi phí được trừ. “Chúng tôi đề nghị nên bỏ quy định này, nếu vẫn quy định thì nên căn cứ vào tổng doanh thu để phù hợp với thông lệ quốc tế", vị Chủ tịch của Ngân hàng Vietinbank, nơi có ngân sách khá lớn cho hoạt động tiếp thị, quảng cáo, nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cũng cho rằng không nên khống chế chi phí quảng cáo khuyến mãi ở mức 15% như dự thảo. “Nên trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, không doanh nghiệp chi mà không có tính toán, cũng phải cân đối chi thế nào để có lợi nhất, chi phí quảng cáo khuyến mãi là chi chi phí của doanh nghiệp. Đây cũng là tác nhân chi đầu vào cho ngành công nghiệp quảng cáo”, bà Hường nói.
Quan điểm này cũng nhận được sự chia sẻ từ đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Co.op, nơi có hệ thống siêu thị rất lớn và có mối quan hệ kinh doanh với hàng ngàn doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ Tư, ngày 22/5/2013, Quốc hội làm việc ở tổ, thảo luận về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012; việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2013 và quyết toán ngân sách nhà nước năm 2011.
Trong các buổi thảo luận tổ tại Quốc hội chiều 21/5, vấn đề này lại được làm nóng bởi các ý kiến đến từ các đại biểu, đặc biệt là các đại biểu doanh nhân.
Theo tờ trình của Chính phủ về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, dự thảo luật có quy định nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế.
Trong thời gian qua, các hiệp hội doanh nghiệp liên tục đưa ra các ý kiến phản đối, yêu cầu bỏ hẳn quy định khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Bộ Tài chính khó tiếp thu đề nghị này mà vẫn bảo lưu quan điểm “nới lỏng” hơn là “bỏ hẳn”.
Các đại biểu Quốc hội dường như cũng cảm nhận được cái khó của Bộ Tài chính nên trong các buổi thảo luận tại tổ, các ý kiến góp ý đã đưa ra giải pháp dung hòa là đề nghị áp dụng tỷ lệ 15% trên doanh thu thay vì 15% trên chi phí hợp lý. Đây chính là cách thức đang được áp dụng tại Trung Quốc và theo các đại biểu, quy định như vậy sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu Trần Du Lịch, cần thiết phải có khống chế mức chi quảng cáo tiếp thị mặc dù hiện nay mức 15% chỉ có một số nước áp dụng, tuy nhiên nếu tính 15% trên doanh thu thì “phù hợp hơn”.
Đại biểu Phạm Huy Hùng, (Hà Nội) cho rằng nên cân nhắc lại mức khống chế 15% trên tổng chi phí được trừ. “Chúng tôi đề nghị nên bỏ quy định này, nếu vẫn quy định thì nên căn cứ vào tổng doanh thu để phù hợp với thông lệ quốc tế", vị Chủ tịch của Ngân hàng Vietinbank, nơi có ngân sách khá lớn cho hoạt động tiếp thị, quảng cáo, nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cũng cho rằng không nên khống chế chi phí quảng cáo khuyến mãi ở mức 15% như dự thảo. “Nên trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, không doanh nghiệp chi mà không có tính toán, cũng phải cân đối chi thế nào để có lợi nhất, chi phí quảng cáo khuyến mãi là chi chi phí của doanh nghiệp. Đây cũng là tác nhân chi đầu vào cho ngành công nghiệp quảng cáo”, bà Hường nói.
Quan điểm này cũng nhận được sự chia sẻ từ đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Co.op, nơi có hệ thống siêu thị rất lớn và có mối quan hệ kinh doanh với hàng ngàn doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ Tư, ngày 22/5/2013, Quốc hội làm việc ở tổ, thảo luận về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012; việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2013 và quyết toán ngân sách nhà nước năm 2011.
Lỗ và nợ của tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện thế nào?
Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính năm 2011 của 271 doanh
nghiệp thuộc 27 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước vừa được hoàn
thành vào tháng 5/2013 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy nhiều con số đáng
lo ngại từ khu vực này.
Cho biết có 23/27 tập đoàn,
tổng công ty kinh doanh vẫn có lãi, tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng một số
đơn vị tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt dưới 5%.
4 doanh nghiệp còn lại và một số công ty con thuộc các tập đoàn, tổng công ty này thua lỗ. Kết quả kinh doanh của không ít đơn vị giảm mạnh.
Dẫn đầu về lỗ vẫn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với 1.671 tỷ đồng. Các tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco8) lỗ 137,9 tỷ đồng; Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) lỗ 19,83 tỷ đồng; Xăng dầu Quân đội (Mipeco) lỗ 17,1 tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty mẹ - Tổng công ty Thành An lỗ 1,68 tỷ đồng. 3/21 công ty con thuộc Vinaconex, 3/7 công ty con thuộc Pisico được kiểm toán thua lỗ, tuy nhiên không có con số cụ thể tại báo cáo.
Lợi nhuận sau thuế của Vinaconex giảm 321 tỷ đồng, PVC 589 tỷ đồng, Vinafood2 113 tỷ đồng và Habeco lợi nhuận trước thuế bằng 0,86% năm trước.
Các doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu dưới 5% được điểm danh gồm các tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 4,51%; Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 4,27%; Cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVC) 3,53%; Đầu tư và Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) 2,57%; Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Vinacco) 2,17%...
Kết quả kiểm toán tại 27 “ông lớn” cũng đã điều chỉnh giảm tổng tài sản - nguồn vốn 1.477 tỷ đồng, tổng doanh thu - thu nhập thuần 1.015 tỷ đồng, tổng chi phí 2.347 tỷ đồng và tăng lợi nhuận trước thuế 1.305 tỷ đồng.
Vẫn theo Kiểm toán Nhà nước, tổng nợ phải thu của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 54.133 tỷ đồng, nợ phải thu trên tổng tài sản là 20,56% và trên vốn chủ sở hữu là 82,97%.
Đáng lưu ý là, một số đơn vị quản lý nợ chưa chặt chẽ để khách hàng chiếm dụng vốn lớn, nợ xấu cao; ứng trước tiền mua hàng với số lượng lớn nhưng không áp dụng các hình thức bảo lãnh, bảo đảm cho tiền ứng trước dẫn đến nguy cơ mất vốn lớn…
Như, tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản của Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất công nghiệp 40%, Công ty TNHH Một thành viên Xây lắp điện 4 thuộc Tổng công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) 59,8%, Công ty Cổ phần Xây lắp Công trình Tây Nguyên 31,2%, Công ty Cổ phần Cẩm Hà 31%...
Hay, nợ phải thu quá hạn trên 6 tháng của Vinafor là 64,16 tỷ đồng, trên 1 năm của công ty mẹ - PVC 36 tỷ đồng; Cienco8: Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Việt Lào nợ quá hạn 44,08 tỷ đồng, chiếm 43,8% nợ phải thu, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng công trình giao thông 874 là 25,81 tỷ đồng, chiếm 23,7%...
Rồi ở Vinafood 1, một số công ty ứng trước 90% giá trị hợp đồng nhưng khách hàng chưa hoặc không giao hàng. Vinafood 2 ứng trước 80%-90% giá trị hợp đồng nhưng chưa ban hành quy chế về ứng vốn cho người bán hàng.
Báo cáo cũng cho biết, tổng các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ phần hóa doanh nghiệp.
Hiệu quả đầu tư của một số đơn vị thấp, nhiều công ty liên doanh, liên kết kinh doanh thua lỗ, mất vốn, đặc biệt là các khoản đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán đều thua lỗ, báo cáo nêu rõ.
Cụ thể, PVC đầu tư vào công ty liên kết PVC- SG lỗ 85,8 tỷ đồng; PVC-Land lỗ 66,4 tỷ đồng. Công ty Sopewaco lỗ 48,5 tỷ đồng; Công ty CP Xi măng Hạ Long lỗ lũy kế đến 31/12/2011 là 1.090 tỷ đồng, vượt vốn điều lệ 982 tỷ đồng. Công ty mẹ - Habeco đầu tư vào các doanh nghiệp khác năm 2011 lỗ 195,42 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn các khoản đầu tư tài chính dài hạn tổn thất phải trích lập dự phòng là 162,3 tỷ đồng, bằng 13,64% giá trị đầu tư. Vinafood 2 đầu tư lĩnh vực bất động sản, vận tải biển không hiệu quả còn Vinafood 1 thì công ty mẹ tỷ lệ cổ tức được chia trên vốn góp tại các công ty con chỉ đạt 5,31%.
Với chứng khoán, công ty mẹ - Vinafood 1 đầu tư 118,53 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 42,23 tỷ đồng; Công ty mẹ - Vinachem góp vốn vào Công ty Cổ phần Chứng khoán VICS 22 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 18,5 tỷ đồng và mua cổ phần của Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh 16 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 5,6 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Bến Thành và Công ty Văn hóa tổng hợp Bến Thành lỗ kinh doanh chứng khoán ngắn hạn. Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn thuộc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn phải trích lập dự phòng 8,057 tỷ đồng cho các đầu tư chứng khoán bị tổn thất, bằng 52,45% giá trị đầu tư.
Rồi Vinafood 2 đầu tư chứng khoán của Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam 59,5 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 47,7 tỷ đồng và mua cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) 52,57 tỷ đồng, giá niêm yết còn 16,64 tỷ đồng...
Kết quả kiểm toán cũng cho biết, tổng nguồn vốn của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 263.288 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 65.241 tỷ đồng (chiếm 24,7% tổng nguồn vốn), nợ phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Các con số được dẫn để minh chứng về nợ phải trả/tổng nguồn vốn của VEC là 97,9%; Vinaincon là 91%, Cienco4 89,3%; Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 85,6%; Vinaconex là 81,7%, Vinafood 1 là 68%; PVC là 67%; Vinafood 2 là 65%...
4 doanh nghiệp còn lại và một số công ty con thuộc các tập đoàn, tổng công ty này thua lỗ. Kết quả kinh doanh của không ít đơn vị giảm mạnh.
Dẫn đầu về lỗ vẫn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với 1.671 tỷ đồng. Các tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco8) lỗ 137,9 tỷ đồng; Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) lỗ 19,83 tỷ đồng; Xăng dầu Quân đội (Mipeco) lỗ 17,1 tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty mẹ - Tổng công ty Thành An lỗ 1,68 tỷ đồng. 3/21 công ty con thuộc Vinaconex, 3/7 công ty con thuộc Pisico được kiểm toán thua lỗ, tuy nhiên không có con số cụ thể tại báo cáo.
Lợi nhuận sau thuế của Vinaconex giảm 321 tỷ đồng, PVC 589 tỷ đồng, Vinafood2 113 tỷ đồng và Habeco lợi nhuận trước thuế bằng 0,86% năm trước.
Tổng
các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm
toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu
tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ
phần hóa doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu dưới 5% được điểm danh gồm các tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 4,51%; Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 4,27%; Cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVC) 3,53%; Đầu tư và Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) 2,57%; Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Vinacco) 2,17%...
Kết quả kiểm toán tại 27 “ông lớn” cũng đã điều chỉnh giảm tổng tài sản - nguồn vốn 1.477 tỷ đồng, tổng doanh thu - thu nhập thuần 1.015 tỷ đồng, tổng chi phí 2.347 tỷ đồng và tăng lợi nhuận trước thuế 1.305 tỷ đồng.
Vẫn theo Kiểm toán Nhà nước, tổng nợ phải thu của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 54.133 tỷ đồng, nợ phải thu trên tổng tài sản là 20,56% và trên vốn chủ sở hữu là 82,97%.
Đáng lưu ý là, một số đơn vị quản lý nợ chưa chặt chẽ để khách hàng chiếm dụng vốn lớn, nợ xấu cao; ứng trước tiền mua hàng với số lượng lớn nhưng không áp dụng các hình thức bảo lãnh, bảo đảm cho tiền ứng trước dẫn đến nguy cơ mất vốn lớn…
Như, tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản của Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất công nghiệp 40%, Công ty TNHH Một thành viên Xây lắp điện 4 thuộc Tổng công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) 59,8%, Công ty Cổ phần Xây lắp Công trình Tây Nguyên 31,2%, Công ty Cổ phần Cẩm Hà 31%...
Hay, nợ phải thu quá hạn trên 6 tháng của Vinafor là 64,16 tỷ đồng, trên 1 năm của công ty mẹ - PVC 36 tỷ đồng; Cienco8: Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Việt Lào nợ quá hạn 44,08 tỷ đồng, chiếm 43,8% nợ phải thu, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng công trình giao thông 874 là 25,81 tỷ đồng, chiếm 23,7%...
Rồi ở Vinafood 1, một số công ty ứng trước 90% giá trị hợp đồng nhưng khách hàng chưa hoặc không giao hàng. Vinafood 2 ứng trước 80%-90% giá trị hợp đồng nhưng chưa ban hành quy chế về ứng vốn cho người bán hàng.
Báo cáo cũng cho biết, tổng các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ phần hóa doanh nghiệp.
Hiệu quả đầu tư của một số đơn vị thấp, nhiều công ty liên doanh, liên kết kinh doanh thua lỗ, mất vốn, đặc biệt là các khoản đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán đều thua lỗ, báo cáo nêu rõ.
Nợ
phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ
yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Cụ thể, PVC đầu tư vào công ty liên kết PVC- SG lỗ 85,8 tỷ đồng; PVC-Land lỗ 66,4 tỷ đồng. Công ty Sopewaco lỗ 48,5 tỷ đồng; Công ty CP Xi măng Hạ Long lỗ lũy kế đến 31/12/2011 là 1.090 tỷ đồng, vượt vốn điều lệ 982 tỷ đồng. Công ty mẹ - Habeco đầu tư vào các doanh nghiệp khác năm 2011 lỗ 195,42 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn các khoản đầu tư tài chính dài hạn tổn thất phải trích lập dự phòng là 162,3 tỷ đồng, bằng 13,64% giá trị đầu tư. Vinafood 2 đầu tư lĩnh vực bất động sản, vận tải biển không hiệu quả còn Vinafood 1 thì công ty mẹ tỷ lệ cổ tức được chia trên vốn góp tại các công ty con chỉ đạt 5,31%.
Với chứng khoán, công ty mẹ - Vinafood 1 đầu tư 118,53 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 42,23 tỷ đồng; Công ty mẹ - Vinachem góp vốn vào Công ty Cổ phần Chứng khoán VICS 22 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 18,5 tỷ đồng và mua cổ phần của Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh 16 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 5,6 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Bến Thành và Công ty Văn hóa tổng hợp Bến Thành lỗ kinh doanh chứng khoán ngắn hạn. Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn thuộc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn phải trích lập dự phòng 8,057 tỷ đồng cho các đầu tư chứng khoán bị tổn thất, bằng 52,45% giá trị đầu tư.
Rồi Vinafood 2 đầu tư chứng khoán của Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam 59,5 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 47,7 tỷ đồng và mua cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) 52,57 tỷ đồng, giá niêm yết còn 16,64 tỷ đồng...
Kết quả kiểm toán cũng cho biết, tổng nguồn vốn của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 263.288 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 65.241 tỷ đồng (chiếm 24,7% tổng nguồn vốn), nợ phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Các con số được dẫn để minh chứng về nợ phải trả/tổng nguồn vốn của VEC là 97,9%; Vinaincon là 91%, Cienco4 89,3%; Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 85,6%; Vinaconex là 81,7%, Vinafood 1 là 68%; PVC là 67%; Vinafood 2 là 65%...
EVN phải “đoạn tuyệt” với ngân hàng, bất động sản?
Chính phủ vừa công bố dự thảo nghị định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Điểm đáng chú ý, là Chính phủ sẽ thống nhất thành lập Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, trên cơ sở nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 1); các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo; các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 2); các công ty con của doanh nghiệp cấp 2 và các cấp tiếp theo và các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
Theo dự thảo, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Vốn điều lệ của EVN tại thời điểm 31/12/2012 là 143.404 tỷ đồng, với các chức năng chủ yếu của là tiến hành các hoạt động đầu tư, ký kết các hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trực tiếp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra có chức năng đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật…
Dự thảo nghị định cũng quy định rõ, mục tiêu kinh doanh của EVN là “kinh doanh bền vững, hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu nhà nước giao”.
Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ chủ trương quy định rõ một số ngành, nghề kinh doanh chính của EVN, gồm: sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện…
Ngoài ra, EVN cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính: xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện; xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị viễn thông - công nghệ thông tin; sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu cách điện, trang bị bảo hộ lao động; đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN; kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin trong và ngoài nước, quản lý hệ thống thông tin nội bộ…
Dự thảo yêu cầu EVN phải có nghĩa vụ trong việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại EVN và vốn tự huy động. EVN phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của EVN trong phạm vi số tài sản của tập đoàn; tự chủ về tài chính, tự cân đối về các khoản thu chi; kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do chủ sở hữu nhà nước giao.
Như vậy, so với quy định cũ, điểm đáng chú ý trong dự thảo lần này là Chính phủ đã “cấm cửa” hẳn hoạt động đầu tư bất động sản, ngân hàng đối với EVN, sau khi tập đoàn đã không có được thành công trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, so với đề án tái cơ cấu một số tập đoàn kinh tế mới được Thủ tướng phê duyệt, chẳng hạn như Viettel, trong đó vẫn cho phép tập đoàn này được đầu tư lĩnh vực bất động sản, thì nghị định về quy chế hoạt động của EVN đã có phần “siết” chặt hơn. Ngay cả lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin, Chính phủ cũng chỉ cho phép EVN tham gia các mảng cụ thể như nghiên cứu, tư vấn đào tạo.
Điểm đáng chú ý, là Chính phủ sẽ thống nhất thành lập Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, trên cơ sở nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 1); các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo; các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 2); các công ty con của doanh nghiệp cấp 2 và các cấp tiếp theo và các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
Theo dự thảo, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Vốn điều lệ của EVN tại thời điểm 31/12/2012 là 143.404 tỷ đồng, với các chức năng chủ yếu của là tiến hành các hoạt động đầu tư, ký kết các hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trực tiếp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra có chức năng đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật…
Dự thảo nghị định cũng quy định rõ, mục tiêu kinh doanh của EVN là “kinh doanh bền vững, hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu nhà nước giao”.
Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ chủ trương quy định rõ một số ngành, nghề kinh doanh chính của EVN, gồm: sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện…
Ngoài ra, EVN cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính: xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện; xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị viễn thông - công nghệ thông tin; sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu cách điện, trang bị bảo hộ lao động; đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN; kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin trong và ngoài nước, quản lý hệ thống thông tin nội bộ…
Dự thảo yêu cầu EVN phải có nghĩa vụ trong việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại EVN và vốn tự huy động. EVN phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của EVN trong phạm vi số tài sản của tập đoàn; tự chủ về tài chính, tự cân đối về các khoản thu chi; kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do chủ sở hữu nhà nước giao.
Như vậy, so với quy định cũ, điểm đáng chú ý trong dự thảo lần này là Chính phủ đã “cấm cửa” hẳn hoạt động đầu tư bất động sản, ngân hàng đối với EVN, sau khi tập đoàn đã không có được thành công trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, so với đề án tái cơ cấu một số tập đoàn kinh tế mới được Thủ tướng phê duyệt, chẳng hạn như Viettel, trong đó vẫn cho phép tập đoàn này được đầu tư lĩnh vực bất động sản, thì nghị định về quy chế hoạt động của EVN đã có phần “siết” chặt hơn. Ngay cả lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin, Chính phủ cũng chỉ cho phép EVN tham gia các mảng cụ thể như nghiên cứu, tư vấn đào tạo.
Viettel sắp phải thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp lớn
Viettel sẽ có vốn điều lệ 100 nghìn tỷ đồng với ngành nghề chính
là kinh doanh viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh truyền hình…
Đó là một trong nội dung chính trong đề án tái cơ cấu Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, Chính phủ thống nhất xây dựng Viettel thành đơn vị kinh tế quốc phòng mạnh, năng động, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và cơ cấu hợp lý. Ngành, nghề kinh doanh chính của Viettel sẽ là: viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh, truyền hình; bưu chính, chuyển phát; nghiên cứu, sản xuất thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông.
Bên cạnh đó, Viettel cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề có liên quan như: thương mại, phân phối, bán lẻ vật tư, thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông; tài chính ngân hàng, bất động sản, đào tạo nguồn nhân lực…
Trong giai đoạn 2013-2015, Viettel sẽ có 11 đơn vị, gồm: Tổng công ty Viễn thông Viettel; Tổng công ty Mạng lưới Viettel; Công ty Bất động sản Viettel; Công ty Truyền hình Viettel... và 63 chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố trong nước hạch toán phụ thuộc công ty mẹ.
Ngoài ra có 5 công ty TNHH một thành viên là đơn vị độc lập do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm: Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M1; Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M3; Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Kinh doanh nhà Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư công nghệ Viettel.
Cùng với đó, công ty mẹ Viettel sẽ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 7 đơn vị , gồm: Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel; Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel; Công ty Cổ phần Công trình Viettel... và nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại 4 đơn vị là Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB); Công ty Cổ phần Phát triển đô thị Vinaconex-Viettel; Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn.
Đề án cũng nêu rõ, Viettel có trách nhiệm thực hiện sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện lực vào công ty mẹ. Đồng thời, thoái toàn bộ vốn của công ty mẹ tại 5 công ty cổ phần: Công nghệ Viettel; Phát triển thương mại Vinaconex; EVN Quốc tế; Công nghiệp cao su Coecco và Công ty Tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Vietel thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành; hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.
Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến thời điểm này, Thủ tướng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 6/9 tập đoàn kinh tế và 8/10 tổng công ty 91.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo sắp xếp được 27 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 16 doanh nghiệp, sáp nhập 5 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp và chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3 doanh nghiệp.
Đó là một trong nội dung chính trong đề án tái cơ cấu Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, Chính phủ thống nhất xây dựng Viettel thành đơn vị kinh tế quốc phòng mạnh, năng động, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và cơ cấu hợp lý. Ngành, nghề kinh doanh chính của Viettel sẽ là: viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh, truyền hình; bưu chính, chuyển phát; nghiên cứu, sản xuất thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông.
Bên cạnh đó, Viettel cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề có liên quan như: thương mại, phân phối, bán lẻ vật tư, thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông; tài chính ngân hàng, bất động sản, đào tạo nguồn nhân lực…
Trong giai đoạn 2013-2015, Viettel sẽ có 11 đơn vị, gồm: Tổng công ty Viễn thông Viettel; Tổng công ty Mạng lưới Viettel; Công ty Bất động sản Viettel; Công ty Truyền hình Viettel... và 63 chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố trong nước hạch toán phụ thuộc công ty mẹ.
Ngoài ra có 5 công ty TNHH một thành viên là đơn vị độc lập do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm: Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M1; Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M3; Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Kinh doanh nhà Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư công nghệ Viettel.
Cùng với đó, công ty mẹ Viettel sẽ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 7 đơn vị , gồm: Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel; Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel; Công ty Cổ phần Công trình Viettel... và nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại 4 đơn vị là Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB); Công ty Cổ phần Phát triển đô thị Vinaconex-Viettel; Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn.
Đề án cũng nêu rõ, Viettel có trách nhiệm thực hiện sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện lực vào công ty mẹ. Đồng thời, thoái toàn bộ vốn của công ty mẹ tại 5 công ty cổ phần: Công nghệ Viettel; Phát triển thương mại Vinaconex; EVN Quốc tế; Công nghiệp cao su Coecco và Công ty Tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Vietel thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành; hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.
Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến thời điểm này, Thủ tướng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 6/9 tập đoàn kinh tế và 8/10 tổng công ty 91.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo sắp xếp được 27 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 16 doanh nghiệp, sáp nhập 5 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp và chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3 doanh nghiệp.
Sẽ có bệnh viện quốc tế 200 triệu USD tại Hải Dương
Ban quản lý các khu công nghiệp Hải Dương cho biết, cơ quan này
đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư của Tập đoàn Triple Eye (Canada) về
việc đầu tư một bệnh viện hiện đại trên địa bàn Hải Dương với quy mô vốn
đầu tư 200 triệu USD.
Bệnh viện này dự kiến được đặt trong Khu công nghiệp Đại An.
Đối với dự án bệnh viện, quá trình khởi động đã được tiến hành hơn một năm nay. Tháng 6/2012, tại thành phố Toronto (Canada), Công ty Cổ phần Đại An và Tập đoàn Triple Eye đã ký bản thảo thuận cam kết hợp tác đầu tư dự án này.
Dự kiến bệnh viện sẽ có tên gọi là Bệnh viện Quốc tế Đại An Việt Nam Canada (Dai An Vietnam Canadian International Hospital) với quy mô 200 giường bệnh.
Tập đoàn Triple Eye sẽ đứng ra thu xếp và đầu tư 100% vốn cho dự án. Ông Marc Kealey, Chủ tịch Tập đoàn Triple Eye được báo giới trích lời nói rằng tập đoàn sẽ cố gắng “hoàn tất các thủ tục cần thiết động thổ bệnh viện vào năm 2013”, năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Canada - Việt Nam.
Ngoài dự án này, một dự án lớn khác cũng đang thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư là dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng cho thuê phục vụ cho các doanh nghiệp Nhật Bản với tổng số vốn đầu tư 65 triệu USD.
Được biết, các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương hiện đã thu hút được 163 dự án đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư đăng ký 3 tỷ USD.
Hầu hết các dự án đầu tư là dự án nước ngoài, thuộc các tập đoàn đầu tư lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Canada, Malaysia, Pháp lĩnh vực sản xuất chủ yếu là điện, điện tử và may mặc.
Bệnh viện này dự kiến được đặt trong Khu công nghiệp Đại An.
Đối với dự án bệnh viện, quá trình khởi động đã được tiến hành hơn một năm nay. Tháng 6/2012, tại thành phố Toronto (Canada), Công ty Cổ phần Đại An và Tập đoàn Triple Eye đã ký bản thảo thuận cam kết hợp tác đầu tư dự án này.
Dự kiến bệnh viện sẽ có tên gọi là Bệnh viện Quốc tế Đại An Việt Nam Canada (Dai An Vietnam Canadian International Hospital) với quy mô 200 giường bệnh.
Tập đoàn Triple Eye sẽ đứng ra thu xếp và đầu tư 100% vốn cho dự án. Ông Marc Kealey, Chủ tịch Tập đoàn Triple Eye được báo giới trích lời nói rằng tập đoàn sẽ cố gắng “hoàn tất các thủ tục cần thiết động thổ bệnh viện vào năm 2013”, năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Canada - Việt Nam.
Ngoài dự án này, một dự án lớn khác cũng đang thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư là dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng cho thuê phục vụ cho các doanh nghiệp Nhật Bản với tổng số vốn đầu tư 65 triệu USD.
Được biết, các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương hiện đã thu hút được 163 dự án đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư đăng ký 3 tỷ USD.
Hầu hết các dự án đầu tư là dự án nước ngoài, thuộc các tập đoàn đầu tư lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Canada, Malaysia, Pháp lĩnh vực sản xuất chủ yếu là điện, điện tử và may mặc.
Kế hoạch hợp nhất PVFC-Western Bank chính thức định hình
Ngày 18/5/2013, đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 của
Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam - PVFC (mã PVF-HOSE) đã
quyết định một nội dung quan trọng, là định hướng phát triển PVFC thành
một ngân hàng thương mại cổ phần.
Với mục đích chủ đạo xuyên suốt năm 2013 của PVFC là tập trung thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình ngân hàng ngân hàng thương mại, tại đại hội lần này, PVFC đã xin ý kiến cổ đông thông qua bản đề án hợp nhất PVFC và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank).
Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng tiếp theo trong lộ trình hợp nhất này. Trước đó, ngày 26/4/2013, 100% cổ đông của WesternBank đã thông qua các tài liệu liên quan việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC gồm: dự thảo hợp đồng hợp nhất và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng hợp nhất.
Như vậy, sau gần một năm với nhiều thông tin đề cập, kế hoạch hợp nhất giữa WesternBank và PVFC đã chính thức định hình cụ thể thông qua các sự kiện quan trọng như: đại hội đồng cổ đông của Western Bank, PVFC và thông qua các bước tiến quan trọng của tiến trình hợp nhất.
Theo dự thảo đề án hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, ứng với 900 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, quy mô tài sản là 100.000 tỷ đồng. Phương thức hợp nhất vốn giữa PVFC và Western Bank được tính căn cứ dựa trên vốn và tài sản của hai bên và sẽ được chuyển giao cho ngân hàng hợp nhất vào ngày hợp nhất.
Cổ đông cũ của hai bên sẽ được hoán đổi trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của ngân hàng hợp nhất và được hưởng mọi quyền, lợi ích và có đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách là cổ đông của ngân hàng hợp nhất.
Dự thảo hợp đồng hợp nhất dự kiến được ký kết giữa PVFC với Western Bank cũng quy định, trong thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày hợp nhất, cả hai bên cam kết thực hiện hoạt động kinh doanh bình thường, duy trì và giữ vững cơ cấu tổ chức hoạt động, các cơ hội kinh doanh, kế thừa các mối quan hệ kinh doanh và đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nhà cung cấp, tư vấn, đại lý, phân phối và các tổ chức, cá nhân khác.
Đồng thời cam kết đảm bảo quyền lợi người lao động, giữ vững và đảm bảo hình ảnh, thương hiệu và uy tín, bảo đảm an toàn tuyệt đối về tài sản mà cả PVFC và Western Bank đang có trước khi ký kết hợp đồng.
Kể từ ngày hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ kế thừa tất cả quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hợp đồng đã ký giữa PVFC, Western Bank và bên thứ ba trước ngày hợp nhất. Tất cả các khoản nợ, trách nhiệm, nghĩa vụ của PVFC và Western Bank có ngay trước ngày hợp nhất sẽ trở thành các khoản nợ, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng hợp nhất. Giao dịch hợp nhất sẽ được thực hiện theo các thủ tục quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.
Nếu việc hợp nhất giữa PVFC và Western Bank thành công, ngân hàng hợp nhất sẽ có khá nhiều lợi thế do tận dụng được điểm mạnh của PVFC và Western Bank.
Cụ thể, ngân hàng hợp nhất có cơ hội thực hiện đầy đủ các giao dịch huy động vốn, dịch vụ thanh toán, phát triển mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động mà PVFC hiện nay bị hạn chế; có khả năng tiếp cận các khách hàng lớn, dự án trọng điểm... là những điều mà Western Bank không có khả năng thực hiện.
Mặt khác, khi đã trở thành ngân hàng thương mại thì sẽ huy động được vốn từ nền kinh tế và duy trì một cách hài hòa chiến lược ngân hàng bán lẻ để cung cấp các dịch vụ thân thiện cho khách hàng, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, vốn là thế mạnh của PVFC.
Bên cạnh đó, đại hội đồng cổ đông cũng thông qua tờ trình về kết quả kinh doanh năm 2012 và kế hoạch năm 2013. Trong năm 2012, doanh thu toàn Tổng công ty đạt 7.386 tỷ đồng, bằng 132% kế hoạch năm; trong đó doanh thu công ty mẹ đạt 7.200 tỷ đồng.
Lợi nhuận toàn Tổng công ty trước trích lập dự phòng đạt 429 tỷ đồng, sau trích lập dự phòng đạt 54 tỷ đồng. Số dư cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân tính hết năm 2012 đạt 43.310 tỷ đồng. Tổng tài sản của PVFC tính đến ngày 31/12/2012 là 87.736 tỷ đồng.
Năm 2013, Tổng công ty trình đại hội đồng cổ đông thông qua kế hoạch doanh thu dự kiến đạt 5.674 tỷ đồng, trong đó, doanh thu công ty mẹ đạt 5.500 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 72,5 tỷ đồng, tăng 35% so với thực hiện năm 2012.
Với mục đích chủ đạo xuyên suốt năm 2013 của PVFC là tập trung thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình ngân hàng ngân hàng thương mại, tại đại hội lần này, PVFC đã xin ý kiến cổ đông thông qua bản đề án hợp nhất PVFC và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank).
Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng tiếp theo trong lộ trình hợp nhất này. Trước đó, ngày 26/4/2013, 100% cổ đông của WesternBank đã thông qua các tài liệu liên quan việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC gồm: dự thảo hợp đồng hợp nhất và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng hợp nhất.
Như vậy, sau gần một năm với nhiều thông tin đề cập, kế hoạch hợp nhất giữa WesternBank và PVFC đã chính thức định hình cụ thể thông qua các sự kiện quan trọng như: đại hội đồng cổ đông của Western Bank, PVFC và thông qua các bước tiến quan trọng của tiến trình hợp nhất.
Theo dự thảo đề án hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, ứng với 900 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, quy mô tài sản là 100.000 tỷ đồng. Phương thức hợp nhất vốn giữa PVFC và Western Bank được tính căn cứ dựa trên vốn và tài sản của hai bên và sẽ được chuyển giao cho ngân hàng hợp nhất vào ngày hợp nhất.
Cổ đông cũ của hai bên sẽ được hoán đổi trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của ngân hàng hợp nhất và được hưởng mọi quyền, lợi ích và có đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách là cổ đông của ngân hàng hợp nhất.
Dự thảo hợp đồng hợp nhất dự kiến được ký kết giữa PVFC với Western Bank cũng quy định, trong thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày hợp nhất, cả hai bên cam kết thực hiện hoạt động kinh doanh bình thường, duy trì và giữ vững cơ cấu tổ chức hoạt động, các cơ hội kinh doanh, kế thừa các mối quan hệ kinh doanh và đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nhà cung cấp, tư vấn, đại lý, phân phối và các tổ chức, cá nhân khác.
Đồng thời cam kết đảm bảo quyền lợi người lao động, giữ vững và đảm bảo hình ảnh, thương hiệu và uy tín, bảo đảm an toàn tuyệt đối về tài sản mà cả PVFC và Western Bank đang có trước khi ký kết hợp đồng.
Kể từ ngày hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ kế thừa tất cả quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hợp đồng đã ký giữa PVFC, Western Bank và bên thứ ba trước ngày hợp nhất. Tất cả các khoản nợ, trách nhiệm, nghĩa vụ của PVFC và Western Bank có ngay trước ngày hợp nhất sẽ trở thành các khoản nợ, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng hợp nhất. Giao dịch hợp nhất sẽ được thực hiện theo các thủ tục quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.
Nếu việc hợp nhất giữa PVFC và Western Bank thành công, ngân hàng hợp nhất sẽ có khá nhiều lợi thế do tận dụng được điểm mạnh của PVFC và Western Bank.
Cụ thể, ngân hàng hợp nhất có cơ hội thực hiện đầy đủ các giao dịch huy động vốn, dịch vụ thanh toán, phát triển mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động mà PVFC hiện nay bị hạn chế; có khả năng tiếp cận các khách hàng lớn, dự án trọng điểm... là những điều mà Western Bank không có khả năng thực hiện.
Mặt khác, khi đã trở thành ngân hàng thương mại thì sẽ huy động được vốn từ nền kinh tế và duy trì một cách hài hòa chiến lược ngân hàng bán lẻ để cung cấp các dịch vụ thân thiện cho khách hàng, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, vốn là thế mạnh của PVFC.
Bên cạnh đó, đại hội đồng cổ đông cũng thông qua tờ trình về kết quả kinh doanh năm 2012 và kế hoạch năm 2013. Trong năm 2012, doanh thu toàn Tổng công ty đạt 7.386 tỷ đồng, bằng 132% kế hoạch năm; trong đó doanh thu công ty mẹ đạt 7.200 tỷ đồng.
Lợi nhuận toàn Tổng công ty trước trích lập dự phòng đạt 429 tỷ đồng, sau trích lập dự phòng đạt 54 tỷ đồng. Số dư cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân tính hết năm 2012 đạt 43.310 tỷ đồng. Tổng tài sản của PVFC tính đến ngày 31/12/2012 là 87.736 tỷ đồng.
Năm 2013, Tổng công ty trình đại hội đồng cổ đông thông qua kế hoạch doanh thu dự kiến đạt 5.674 tỷ đồng, trong đó, doanh thu công ty mẹ đạt 5.500 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 72,5 tỷ đồng, tăng 35% so với thực hiện năm 2012.
Nhiều “thử thách” đợi dự án lọc hóa dầu 27 tỷ USD
Dù mong muốn đẩy nhanh tiến độ đàm phán và cấp phép siêu dự án
lọc dầu Nhơn Hội, chủ đầu tư và UBND tỉnh Bình Định chắc chắn còn phải
trải qua những “cửa ải” khó khăn về thủ tục.
Cho đến
nay, Chính phủ vẫn chưa có quyết định cuối cùng trong việc cho phép
triển khai siêu dự án lọc hóa dầu có vốn đầu tư ước tính 27 tỷ USD tại
khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định.
Diễn biến mới nhất là vào ngày 10/5/2013, Phó thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã có văn bản 652/TTg-KTN qua đó thông báo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ đối với dự án này.
Theo văn bản này, Phó thủ tướng giao UBND tỉnh Bình Định hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư theo đúng quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan, lưu ý ý kiến của các Bộ, ngành.
Đồng thời, Bộ Công thương được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và các cơ quan liên quan “xem xét đánh giá hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư này”.
Tuy nhiên, một nội dung rất đáng chú ý trong văn bản này là việc Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương “căn cứ tiến độ triển khai thực tế của các dự án lọc hóa dầu trong quy hoạch phát triển dầu khí Việt Nam, trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các dự án lọc hóa dầu, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển ngành dầu khí Việt Nam, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu”.
Trước đó, trong tờ trình của mình lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã lưu ý 8 vấn đề đã được các bộ, ngành góp ý cho dự án và đề xuất. Sau khi các vấn đề trên được làm rõ, chủ trương đầu tư với dự án nhà máy lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội mới được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
“8 vấn đề” mà Bộ Công Thương lưu ý bao gồm cân đối cung cầu sản phẩm lọc, hóa dầu cảu Việt Nam và phương án tiêu thụ sản phẩm (trong nước/xuất khẩu) của dự án; phương án cung cấp dầu thô dài hạn; việc đầu tư các hạng mục đầu tư công trình biển cần thiết cho dự án (cảng, đê chắn sóng…); chi phí đầu tư hạ tâng cơ sở ngoài hàng rào; tiến độ dự án; cơ cấu vốn đầu tư, cam kết tham gia của các đối tác Việt Nam; tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế; khả năng thu xếp vốn của chủ đầu tư.
Trong khi đó, tại buổi tọa đàm trực tuyến chủ đề "Thu hút đầu tư - Kinh nghiệm từ Bình Định" tổ chức hôm 12/5 vừa qua, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Hồ Quốc Dũng cho rằng dự án lọc hóa dầu này “rất khả thi ở nhiều khía cạnh".
Cũng theo ông Dũng, PTT từng khảo sát nhiều vị trí ở Việt Nam, Malaysia, Myanmar… trước khi chọn khu kinh tế Nhơn Hội của Bình Định để triển khai nhà máy lọc hóa dầu. Ông cũng cho biết, hiện có “các ý kiến hoài nghi tập trung vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, chứ chưa ai khẳng định khu kinh tế Nhơn Hội không bảo đảm điều kiện xây dựng nhà máy lọc hóa dầu”.
Ông Dũng cho biết khu kinh tế Nhơn Hội đã có sẵn hạ tầng, đầy đủ điều kiện để có thể triển khai dự án ngay lập tức, giá thuê đất rẻ nhất hiện nay trong khu vực. Nhơn Hội cũng có cảng nước sâu, kín gió, nằm trên đường giao thương quốc tế, có thể ra Bắc, vào Nam, đi ra với khu vực và trên thế giới, là những điều kiện tốt để triển khai dự án.
Diễn biến mới nhất là vào ngày 10/5/2013, Phó thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã có văn bản 652/TTg-KTN qua đó thông báo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ đối với dự án này.
Theo văn bản này, Phó thủ tướng giao UBND tỉnh Bình Định hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư theo đúng quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan, lưu ý ý kiến của các Bộ, ngành.
Đồng thời, Bộ Công thương được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và các cơ quan liên quan “xem xét đánh giá hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư này”.
Tuy nhiên, một nội dung rất đáng chú ý trong văn bản này là việc Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương “căn cứ tiến độ triển khai thực tế của các dự án lọc hóa dầu trong quy hoạch phát triển dầu khí Việt Nam, trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các dự án lọc hóa dầu, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển ngành dầu khí Việt Nam, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu”.
Trước đó, trong tờ trình của mình lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã lưu ý 8 vấn đề đã được các bộ, ngành góp ý cho dự án và đề xuất. Sau khi các vấn đề trên được làm rõ, chủ trương đầu tư với dự án nhà máy lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội mới được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
“8 vấn đề” mà Bộ Công Thương lưu ý bao gồm cân đối cung cầu sản phẩm lọc, hóa dầu cảu Việt Nam và phương án tiêu thụ sản phẩm (trong nước/xuất khẩu) của dự án; phương án cung cấp dầu thô dài hạn; việc đầu tư các hạng mục đầu tư công trình biển cần thiết cho dự án (cảng, đê chắn sóng…); chi phí đầu tư hạ tâng cơ sở ngoài hàng rào; tiến độ dự án; cơ cấu vốn đầu tư, cam kết tham gia của các đối tác Việt Nam; tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế; khả năng thu xếp vốn của chủ đầu tư.
Trong khi đó, tại buổi tọa đàm trực tuyến chủ đề "Thu hút đầu tư - Kinh nghiệm từ Bình Định" tổ chức hôm 12/5 vừa qua, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Hồ Quốc Dũng cho rằng dự án lọc hóa dầu này “rất khả thi ở nhiều khía cạnh".
Cũng theo ông Dũng, PTT từng khảo sát nhiều vị trí ở Việt Nam, Malaysia, Myanmar… trước khi chọn khu kinh tế Nhơn Hội của Bình Định để triển khai nhà máy lọc hóa dầu. Ông cũng cho biết, hiện có “các ý kiến hoài nghi tập trung vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, chứ chưa ai khẳng định khu kinh tế Nhơn Hội không bảo đảm điều kiện xây dựng nhà máy lọc hóa dầu”.
Ông Dũng cho biết khu kinh tế Nhơn Hội đã có sẵn hạ tầng, đầy đủ điều kiện để có thể triển khai dự án ngay lập tức, giá thuê đất rẻ nhất hiện nay trong khu vực. Nhơn Hội cũng có cảng nước sâu, kín gió, nằm trên đường giao thương quốc tế, có thể ra Bắc, vào Nam, đi ra với khu vực và trên thế giới, là những điều kiện tốt để triển khai dự án.
Một doanh nghiệp FDI bị truy thu trên 9 tỉ đồng
Một doanh nghiệp FDI bị truy thu trên 9 tỉ đồng
Cục Hải quan TP.HCM đã thực hiện kiểm tra đối với một số tờ khai nhập khẩu mặt hàng cam ép đông lạnh, truy thu trên 3 tỉ đồng thuế. Tổng cộng doanh nghiệp này bị truy thu trên 9 tỉ đồng thuế đối với các tờ khai NK mặt hàng cam ép đông lạnh.
Chi cục Hải quan quản
lý hàng Đầu tư – Cục Hải quan TP.HCM cho biết, qua công tác phúc tập hồ
sơ hải quan đơn vị đã tăng thu cho ngân sách Nhà nước trên 10 tỉ đồng,
trong đó một DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sản xuất, kinh
doanh nước giải khát bị truy thu trên 6 tỷ đồng.
Doanh nghiệp này bị
truy thu thuế đối với mặt hàng cam ép đông lạnh thuộc 46 tờ khai nhập
khẩu từ năm 2010 đến năm 2013, với mức thuế điều chỉnh tăng từ 20% lên
40%.
Ngoài ra, từ thông tin
phúc tập này, Chi cục kiểm tra sau thông quan, Cục Hải quan TP.HCM đã
thực hiện kiểm tra đối với một số tờ khai nhập khẩu mặt hàng cam ép đông
lạnh, truy thu trên 3 tỉ đồng thuế. Tổng cộng doanh nghiệp này bị truy
thu trên 9 tỉ đồng thuế đối với các tờ khai NK mặt hàng cam ép đông
lạnh.
Được biết, từ đầu năm
đến nay, thông qua công tác phúc tập hồ sơ hải quan, Cục Hải quan TP.HCM
tăng thu trên 11 tỉ đồng, trong đó Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư
thực hiện truy thu trên 10 tỉ đồng đối với 11 trường hợp./.
1 triệu USD mua được nhà “cỡ” nào ở Mỹ?
1 triệu USD mua được nhà “cỡ” nào ở Mỹ?
►Với dữ liệu từ trang bất động sản Zillow, trang Business Insider giới thiệu một số căn nhà có giá khoảng 1 triệu USD đang được rao bán ở MỹTrong khi đó, ở Houston, Texas, số tiền 1,04 triệu USD đủ để đem đến cho bạn một căn nhà có diện tích gần 580m2, có 5 phòng ngủ, 3 lò sưởi và 1 bể bơi riêng.




























