Archive for 2013
Bạn là con gà hay con công?
Bạn sẽ chọn hướng đi nào cho cuộc đời của mình? Hãy để
con người trong bạn lên tiếng, đừng tự huyễn hoặc mình để cả đời sau
phải trả giá vì lỡ trút bỏ xiêm y của “con gà” để mong ước trở thành
“con Công”, vì "con gà" cũng có giá trị và nét đẹp của riêng nó.
1. Cuộc sống càng đơn giản khi vốn sống càng dày hơn
Tôi dùng từ vốn sống, chứ không phải là thời gian sống hay sự trải
nghiệm, bởi không phải ai hiện diện trên trái đất này sớm cũng hiểu sự
vận động của sự vật, hiện tượng hơn người đi sau.
Người có nhiều sự trải nghiệm cũng không chắc "ngộ" nhiều hơn người có
ít sự trải nghiệm, vì điều quan trọng ở chữ "ngộ" đó là việc chuyển hoá
được từ kinh nghiệm thành "vốn", chứ không sẽ cứ mãi lơ lửng với nhận
thức và những định kiến sẵn có của mình.
Tôi nhận thấy rằng, khi người ta càng hiểu được những quy luật của tự
nhiên thì người ta càng có xu hướng quay lại những giá trị truyền thống
và nhu cầu về cuộc sống càng giản đơn hơn.
Ngày nay, đa phần chúng ta đều mong có một vị trí nào đó trong xã hội,
được thưởng thức những món ăn ngon, ngồi xe đẹp và nhà hàng sang…
Nhưng những người thành công thực sự trong cuộc sống thì họ lại thích
những món ăn đơn giản ở nhà, hoặc ở một nơi nào đó không nhiều người để
có không gian nói chuyện với bạn bè của họ.
Họ thích sử dụng những chiếc xe hơi bình thường và chịu khó đi xe đạp
nhiều hơn. Họ cũng không cần tiếng tăm hay vị trí cao trong xã hội mà họ
cần những công việc thực sự mang lại thu nhập chính đáng.
2. Và hướng đi nào cho bản thân?
Ngày nay, chúng ta thường lao vào công việc với một nhiệt huyết rất
lớn, cùng một niềm tin đủ dùng, nhưng hiệu quả thu về lại không cao và
luôn phải trăn trở với câu hỏi “Tôi là ai?”.
Thời gian qua, tôi thấy xuất hiện rất nhiều khóa đào tạo về tư duy
triệu phú trên internet, rồi tôi cũng gặp khá nhiều người làm trong lĩnh
vực kinh doanh đa cấp, họ vẽ cho tôi một tương lai xán lạn khi trưng ra
hàng loạt những triệu phú sau một vài năm hoạt động. Tôi tin những
người đó là có thật và họ thực sự giỏi, họ xứng đáng đứng vào đội ngũ
triệu phú, thậm chí là tỷ phú khi đã xây dựng quanh mình một đội ngũ
leader ở tầng trên có tư duy.
Nhưng liệu “con gà” nào cũng hóa được thành Công khi mạnh dạn trút bỏ
xiêm y “con gà” đã khoác lên mình suốt bao năm tháng qua? Mong ước lớn,
nhưng hành động nhỏ, chúng ta phải đi thuyết phục từng người, sử dụng
mối quan hệ của từng cá nhân, thì liệu rằng chúng ta có thể là những
triệu phú?
Tôi nhận thấy rằng, khi ta chưa có một tầm tư duy đủ lớn, thì một công
việc và một suy nghĩ về việc nhặt nhạnh để “kiếm tiền lẻ” sẽ luôn bám rễ
lấy hành động của chúng ta. Khi từ “duyên” và “ngộ” chưa đến, thì điều
đó ắt chưa thể thay đổi.
Trong khi đó, những triệu phú thực sự đang ngồi với nhau để nghĩ cách
đưa ra những chính sách nhằm khai thác những thị trường mới còn nhiều
tiềm năng phát triển.
Mới thấy rằng, chìa khóa để mở ra con đường thành công là hãy nghĩ lớn
và đi khơi mở thị trường, chứ không phải quanh quẩn trong những mối quan
hệ của mình hay thị trường hiện tại, bởi nó đã bị cày nát bởi những
người đi trước.
Chúng ta luôn nghĩ đến việc phải có vị trí cao trong xã hội, hay phải
là doanh nhân thì mới được gọi là thành công. Nhưng ngày nay, sự hội
nhập đã khiến cho suy nghĩ đó trở nên lạc hậu khi giám đốc hay thậm chí
là Chủ tịch HĐQT cũng chỉ là người làm thuê.
Đã biết bao bạn trẻ thấy những doanh nhân đi trước thành công, nên nuôi
mộng tưởng làm giàu và thành lập doanh nghiệp riêng cho bản thân mình.
Nhưng các bạn không biết rằng, những khẩu hiệu hay không thể bù đắp cho
sự thiếu thốn về kinh nghiệm, nhân lực, nguồn vốn,… và đặc biệt là những
ý tưởng hữu ích. Sự sụp đổ khi đó là tất yếu như một quy luật không thể
khác hơn. Vậy hướng đi nào cho chúng ta?
3. Hai con đường
Sự hội nhập mang tới cho chúng ta rất nhiều cơ hội, nhưng dù là như thế
nào thì tựu chung lại, chúng ta cũng chỉ có 2 con đường để đi tới.
Khi tư duy của chúng ta chưa đủ lớn, chưa có được nhân duyên thì chúng
ta hãy cần mẫn theo con đường làm thuê, chúng ta vẫn có thể có một cuộc
sống thực sự tốt khi là một người giỏi chuyên môn, hay là một nhà quản
lý thành công (ngày nay, khoảng cách thu nhập của hai người này đã được
thu hẹp và cũng ở mức khá cao).
Giống như việc các bạn đến với công ty đa cấp thì các bạn phải định
hình được là mình đã hội tụ đủ duyên để trở thành nhà phân phối không,
hay sẽ chỉ là những người tiêu dùng vì sản phẩm đó thực sự tốt.
Con đường thứ hai là hãy làm chủ tư duy và gia nhập vào đội ngũ ông chủ
nếu bạn có đủ cơ duyên giác ngộ được sự vận động của vũ trụ và vạn vật.
Những người siêu việt (tôi gọi là tỷ phú) có thể xây dựng một hệ thống,
một công ty thực sự có giá trị để làm giàu cho bản thân, những người
kém hơn thì có thể là nhà đầu tư, tham gia góp vốn, xây dựng hệ thống
(tôi gọi là hội đồng triệu phú).
Người đứng đầu như là mặt trời, còn những người phía sau như ánh hào
quang tỏa ra tứ phía, đốt cháy vạn vật xung quanh. Khi đó, dù bạn có là
mặt trời hay vầng thái dương thì cả thiên hạ sẽ tưởng thưởng cho bạn vì
một sự thực là thiên hạ đó đang sống là nhờ những tia nắng mà các bạn
đem lại.
Bạn sẽ chọn hướng đi nào cho cuộc đời của mình? Hãy để con người trong
bạn lên tiếng, đừng tự huyễn hoặc mình để cả đời sau phải trả giá vì lỡ
trút bỏ xiêm y của “con gà” để mong ước trở thành “con Công”, trong khi
"con gà" cũng có giá trị và nét đẹp của riêng nó.
Nhưng bạn cũng đừng hạ thấp ước mơ của mình, vì chỉ những người không
ngừng mơ ước và biết đốt cháy khát vọng mới có thể thay đổi thế giới.
Bà Đàm Bích Thủy chính thức làm Tổng giám đốc VIB
Ngân hàng Quốc tế (VIB) chính thức công bố Tổng giám đốc mới là cựu CEO ANZ Việt Nam và khu vực Mekong, bà Đàm Bích Thủy.
Như vậy, VIB đã chính thức có TGĐ sau
hơn 4 tháng nguyên tổng giám đốc Dương Thị Mai Hoa từ nhiệm và chuyển
sang công tác tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải (Maritimebank).
Sau khi bà Hoa từ nhiệm, HĐQT VIB đã bổ nhiệm ông Lê Quang Trung, từ vị trí Phó Tổng giám đốc, Giám đốc khối nguồn vốn và ngoại hối lên nắm giữ chức Quyền Tổng giám đốc.
Thông tin bà Thủy về làm CEO tại VIB cũng đã có từ hồi trung tuần tháng 3. Các nguồn tin khi đó cho rằng, trong tháng 4/2013, bà Đàm Bích Thủy sẽ chính thức nhậm chức tại VIB, sau khi được sự chấp thuận của phía Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này, mọi việc mới ngã ngũ.
Trước khi gia nhập VIB, bà Đàm Bích Thủy là Tổng Giám đốc Ngân hàng ANZ Việt Nam và khu vực Mekong từ năm 2005. đến năm 2011; từ tháng 7/2011, bà giữ chức vụ Phó Chủ tịch ANZ khu vực Mekong.
Trong thời gian làm việc tại ANZ, bà Thủy được lãnh đạo ANZ toàn cầu đánh giá cao bởi những đóng góp tích cực của chị cho sự phát triển của ANZ tại Việt Nam và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Bà Đàm Bích Thủy tốt nghiệp Thạc sỹ quản trị kinh doanh chuyên ngành tài chính tại trường Đại học Wharton (Mỹ) theo học bổng Fullbright năm 1994 và hoàn thành chương trình quản trị cao cấp tại trường Kinh doanh Harvard năm 2010.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, (ngày 3/6), trên website của Ngân hàng Quốc tế (tại địa chỉ vib.com.vn), thông tin về Ban lãnh đạo Ngân hàng (Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành) vẫn chưa có thông tin về bà Đàm Bích Thủy. Tham khảo:huongnghiep24h.net
Sau khi bà Hoa từ nhiệm, HĐQT VIB đã bổ nhiệm ông Lê Quang Trung, từ vị trí Phó Tổng giám đốc, Giám đốc khối nguồn vốn và ngoại hối lên nắm giữ chức Quyền Tổng giám đốc.
Thông tin bà Thủy về làm CEO tại VIB cũng đã có từ hồi trung tuần tháng 3. Các nguồn tin khi đó cho rằng, trong tháng 4/2013, bà Đàm Bích Thủy sẽ chính thức nhậm chức tại VIB, sau khi được sự chấp thuận của phía Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này, mọi việc mới ngã ngũ.
Trước khi gia nhập VIB, bà Đàm Bích Thủy là Tổng Giám đốc Ngân hàng ANZ Việt Nam và khu vực Mekong từ năm 2005. đến năm 2011; từ tháng 7/2011, bà giữ chức vụ Phó Chủ tịch ANZ khu vực Mekong.
Trong thời gian làm việc tại ANZ, bà Thủy được lãnh đạo ANZ toàn cầu đánh giá cao bởi những đóng góp tích cực của chị cho sự phát triển của ANZ tại Việt Nam và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Bà Đàm Bích Thủy tốt nghiệp Thạc sỹ quản trị kinh doanh chuyên ngành tài chính tại trường Đại học Wharton (Mỹ) theo học bổng Fullbright năm 1994 và hoàn thành chương trình quản trị cao cấp tại trường Kinh doanh Harvard năm 2010.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, (ngày 3/6), trên website của Ngân hàng Quốc tế (tại địa chỉ vib.com.vn), thông tin về Ban lãnh đạo Ngân hàng (Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành) vẫn chưa có thông tin về bà Đàm Bích Thủy. Tham khảo:
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu
Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2013 (VBF 2013) diễn ra
sáng nay, 3/6 tại Hà Nội. Báo Đầu tư điện tử - baodautu.vn ghi nhận ý
kiến của một số nhà quản trị, các Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại
Việt Nam về quá trình cổ phần hóa, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế
- Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Bất chấp các khó khăn, trong năm vừa qua, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một tinh thần kinh doanh kiên cường của các doanh nghiệp.
Tinh thần kinh doanh này rất đáng tự hào và cần được tiếp tục nuôi dưỡng. Cách nuôi dưỡng tốt nhất là phải có nền kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, các chính sách, thủ tục hành chính thuận tiện, thân thiện với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mong muốn Chính phủ kiên định đối với các mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt, song không bền vững.
Những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chủ yếu đến từ những vấn đề nội tại. Do vậy, Chính phủ cần ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn.
Minh bạch trong cổ phần hóa để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập
Ông Kim Jung In, Chủ tịch Korcham
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế ở Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho khối tư nhân, Chính phủ cần tiếp tục cam kết xúc tiến quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với những biện pháp quyết liệt.
Đặc biệt, vì nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của DNNN, nên quá trình này cần phải rõ ràng, minh bạch để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập.
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiến hành tái cơ cấu ngành ngân hàng theo lộ trình, để tránh việc các ngân hàng thương mại trong nước rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tái cơ cấu DNNN và ngành ngân hàng phải thực hiện đồng thời. Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế
- Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Bất chấp các khó khăn, trong năm vừa qua, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một tinh thần kinh doanh kiên cường của các doanh nghiệp.
Tinh thần kinh doanh này rất đáng tự hào và cần được tiếp tục nuôi dưỡng. Cách nuôi dưỡng tốt nhất là phải có nền kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, các chính sách, thủ tục hành chính thuận tiện, thân thiện với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mong muốn Chính phủ kiên định đối với các mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt, song không bền vững.
Những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chủ yếu đến từ những vấn đề nội tại. Do vậy, Chính phủ cần ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn.
Minh bạch trong cổ phần hóa để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập
Ông Kim Jung In, Chủ tịch Korcham
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế ở Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho khối tư nhân, Chính phủ cần tiếp tục cam kết xúc tiến quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với những biện pháp quyết liệt.
Đặc biệt, vì nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của DNNN, nên quá trình này cần phải rõ ràng, minh bạch để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập.
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiến hành tái cơ cấu ngành ngân hàng theo lộ trình, để tránh việc các ngân hàng thương mại trong nước rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tái cơ cấu DNNN và ngành ngân hàng phải thực hiện đồng thời. Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Nghĩ nhanh, đi nhanh, tiến chắc
Trẻ, tất nhiên rồi, vì Nguyễn Văn Khoa mới 36 tuổi. Thậm
chí, có thể là quá trẻ để ngồi vào cương vị Tổng giám đốc của FPT
Telecom, đơn vị mà năm 2012 vừa qua, đã đạt lợi nhuận cao nhất Tập đoàn
FPT, với 685 tỷ đồng. Nhưng, đó là sức trẻ và sự xông xáo cần thiết để
có thể làm lãnh đạo trong một ngành kinh doanh đầy tính sáng tạo, mà chỉ
cần đi chậm một nhịp, đã có thể bị bỏ lại phía sau.
1.
Là tôi thấy Khoa trẻ, ít ra là so với hình dung của mình trước khi gặp
anh. Chứ Khoa bảo, anh không hề trẻ để ngồi vào chiếc ghế CEO của FPT
Telecom, từ ngày 1/1/2012. Vì anh đã “trót” lấy vợ từ năm 26 tuổi,
“trót” gắn bó cả một thời trai trẻ ở FPT. Và trước khi chính thức nhận
chức Tổng giám đốc của FPT Telecom, đã có một thời gian làm Phó tổng
giám đốc thường trực. “Một công ty chuyên về công nghệ viễn thông, thì
cần những người điều hành trẻ, xông xáo, bản lĩnh”, Khoa nói thế.
Khoa biết FPT từ năm 1997, khi đang là sinh viên năm thứ hai, Khoa Du lịch của Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội), và khi FPT đang rất “nổi” với mạng Trí tuệ Việt Nam. Biết, mê, rồi xin đến làm việc bằng được.
Lúc đầu là làm bán thời gian, như một nhân viên kỹ thuật “nửa mùa”, ngoài giờ học trên lớp, thì suốt ngày rong ruổi xe máy khắp Hà Nội để cài đặt mạng cho khách hàng. Cuối năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu có mạng Internet, Khoa lại cùng các đồng sự mày mò, tìm tòi để phát triển.
“Tôi có may mắn được làm việc cùng và học hỏi những ‘người thầy’ giỏi. Người cho tôi biết về kỹ thuật, người dạy kinh doanh, người bày cách quản trị”, Nguyễn Văn Khoa kể thế và bảo, cũng xác định, các bạn sinh viên khác phải mất 5 năm trên ghế nhà trường để học về công nghệ, Khoa cũng sẽ “chi” 5 năm của cuộc đời mình để học ở “trường FPT”.
Có điều, Khoa vừa học, vừa làm, vừa tích lũy kinh nghiệm. Học trái nghề, nên Khoa biết, chẳng có cách nào khác là phải tự học hỏi, phải làm việc thật nhiều. Làm từ sáng đến 12 giờ đêm, có khi ngủ lại ở công ty. Người khác, chỉ cần làm đủ 8 tiếng một ngày, mình thì cần nhiều hơn. Cứ tâm niệm rằng, mình làm 8-10 tiếng một ngày trong nhiều năm, thì sẽ làm và học được nhiều hơn họ.
Cần cù, chăm chỉ thế, nên năm 2003, có thể nói, Khoa đã “tốt nghiệp trường FPT”, chậm hơn 4 năm so với lần tốt nghiệp đại học thứ nhất, năm 1999. Lúc ấy, cũng đã trải qua 5 năm kinh qua đủ vị trí trong FPT Telecom, từ nhân viên hỗ trợ kỹ thuật, rồi nhân viên kinh doanh, trưởng phòng, nên cùng với “lễ tốt nghiệp”, Khoa được tin tưởng giao phó làm Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng của FPT Telecom.
“Khi ấy, FPT bắt đầu cung cấp dịch vụ ADSL. Và tôi, một ‘anh’ hoàn toàn ngoài ngành đã được giao nhiệm vụ ấy. Nhưng thực ra, sau 5 năm ăn, ngủ và làm việc cật lực, say mê với FPT, tôi đủ tự tin về mặt kỹ thuật. Cái thiếu, chỉ là con người. Tôi phải tìm người hỗ trợ và rất may, rất đông người ủng hộ”.
Có người ủng hộ, nên ADSL của FPT chỉ 6 tháng sau gần như đã phủ khắp Hà Nội. Những trạm thu phát sóng, nhìn chẳng khác nào chiếc chuồng gà, nhưng có sứ mạng thật vĩ đại và có lẽ, khi ấy, là một cuộc “cách mạng” đối với dịch vụ cung cấp ADSL ở Việt Nam.
Vượt qua được cái “ngưỡng” quan trọng nhất, Khoa cứ từ từ thẳng tiến. Muốn có tầm nhìn rộng hơn, Khoa xa Hà Nội, tới phát triển thị trường mới ở Hải Phòng, rồi TP.HCM, 2 năm sau lại sang Campuchia… Khoa đi miết, lang thang khắp mọi xó xỉnh, ngóc ngách của các thị trường mới để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cấp khả năng cung cấp dịch vụ. Đi nhiều đến nỗi, hồi năm 2003, khi cưới vợ, Khoa chỉ kịp về nhà trước lễ cưới 3 ngày.
Khoa là thế. Đã muốn làm gì là quyết tâm làm bằng được, với sự say mê, sức làm việc không mệt mỏi. Những đồng nghiệp của Khoa trong FPT đã nhận xét về anh như vậy. Còn Khoa bảo, đó cũng là bài học mà anh học được từ người thầy Trương Đình Anh, rằng muốn làm gì thì phải tập trung sức lực làm tới cùng, không được từ bỏ.
2.
Không bao giờ được từ bỏ, nên tính đến nay, Nguyễn Văn Khoa đã có 16 năm làm việc ở FPT, trải qua gần như hầu hết các vị trí ở FPT Telecom. Cũng vì vậy mà anh hiểu rõ Công ty đến từng chân tơ kẽ tóc, từ con người, đến mô hình hoạt động…, rất thuận lợi khi ngồi vào “chiếc ghế nóng” ở FPT Telecom.
Cũng phải, 16 năm ở FPT và có lẽ, sẽ còn lâu hơn nữa, khi trọng trách hiện thời của anh là gánh vác FPT Telecom, với gần 5.000 nhân viên. Nếu đến FPT vì cái duyên, vì sự may mắn, thì Khoa ở lại FPT là vì sự đam mê, sự gắn bó dường như là máu thịt với các đồng nghiệp của mình. Vì ở FPT có môi trường làm việc tuyệt vời, nơi mà mọi người đều có thể khẳng định năng lực và cái tôi cá nhân của mình.
Khoa kể, từ ngày anh lên làm Tổng giám đốc FPT Telecom, điều lớn nhất mà anh làm được có lẽ là giúp cán bộ, nhân viên có được sự cân bằng cần thiết trong kinh doanh, để họ biết lùi lại phía sau và nhận rõ mọi cơ hội, thách thức, cũng như những rủi ro mà mình sẽ phải đối mặt.
“Kết quả kinh doanh thành công của năm qua là sự kế thừa của những năm trước. Cái được lớn nhất của tôi kể từ khi làm Tổng giám đốc FPT Telecom là như vậy: xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhân viên kết nối chặt chẽ hơn, một sự kết nối theo kiểu tầng tầng, lớp lớp để mang lại sức mạnh cho Công ty”, Nguyễn Văn Khoa nói và kể rằng, khi bắt đầu nhận chức, anh đã đưa ra hai sự lựa chọn: một là tập trung cho kinh doanh, cho kế hoạch doanh thu, lợi nhuận, hai là phát triển tổ chức.
Phương án thứ hai được lựa chọn, để dù doanh thu, lợi nhuận có thể chậm hơn, nhưng lại bền vững hơn. Nói là vậy, nhưng thực tế, năm 2012 vừa qua, FPT Telecom vẫn có lợi nhuận cao nhất Tập đoàn. Và tất nhiên, vai trò của Tổng giám đốc Nguyễn Văn Khoa là không nhỏ.
Luôn hiểu mình là một “leadership”, là người đứng đầu, người ra các quyết định, ở FPT - yếu tố này cực kỳ được coi trọng, nhưng Khoa bảo, anh chỉ như chiếc “cầu sau của xe cải tiến”. Nghĩa là anh muốn lùi lại đằng sau để giúp đồng nghiệp của mình phát triển một cách nhanh nhất.
“Nếu tôi ở phía sau, có người đi lệch, tôi sẽ biết để điều chỉnh. Tôi cũng muốn lùi lại phía sau, để tạo một không gian làm việc thật rộng lớn cho nhân viên, để họ có mọi cơ hội để phát triển”, Khoa cười nhẹ.
Hóa ra, Khoa không… trẻ như tôi nghĩ. Ở anh có một sự điềm tĩnh đến kỳ lạ, mà ở vào tuổi của mình, không mấy người có được. Càng lạ hơn, khi Khoa nói, điểm nổi trội nhất của anh chính là khả năng thỏa hiệp. Thực ra, tôi không thích hai chữ “thỏa hiệp”. Nói đúng hơn, theo cách nghĩ của tôi, đó là khả năng dẫn dắt, đoàn kết mọi người trong Công ty, khả năng thuyết phục mọi người cùng đồng tâm nhất trí theo đuổi chiến lược phát triển của FPT.
3.
Năm 2012, FPT Telecom giữ vị trí là đơn vị có lợi nhuận cao nhất Tập đoàn, với 685 tỷ đồng. Còn năm nay, kế hoạch doanh thu và lợi nhuận là 4.500 tỷ đồng và 855 tỷ đồng. 4 tháng đầu năm, FPT đã đạt 115% kế hoạch doanh thu và lợi nhuận. Âu cũng là một sự khởi đầu cho những thành công của năm thứ hai, Nguyễn Văn Khoa giữ cương vị CEO của FPT Telecom.
Nhưng anh bảo, ấp ủ của anh còn nhiều lắm. Trong chiến lược toàn cầu hóa, ngày 13/6 tới đây, FPT Telecom sẽ mở thêm chi nhánh thứ 4 ở Xiêm Riệp, sau đó là tháng 8, với chi nhánh ở Sihanoukville (Campuchia). Có mặt ở 5 thành phố chính của Campuchia rồi, FTP Telecom sẽ “đi sâu, đánh chắc”, “thâm canh” thị trường đầy tiềm năng này, gia tăng nhiều dịch vụ cho khách hàng.
Sau Campuchia, trong chiến lược của mình, FPT Telecom còn hướng đến Lào, Myanmar, Bangladesh và một số thị trường Nam Mỹ khác. Chiến lược đã có, mọi thứ đã sẵn sàng, cái cần bây giờ là chuẩn bị cho nghiên cứu và phát triển, cho nguồn lực…
“Vậy sớm nhất là bao giờ, FPT Telecom có thể vươn sang nước khác?”. Đặt câu hỏi thế, nghĩ rằng con số cũng ít nhất là 1 năm, nhưng Khoa bảo, chỉ 3 tháng thôi. “Nhanh thế ư?”. “Phải nhanh chứ. Vì ở cái ngành này, chỉ chậm một chút là… chết. Chậm có nghĩa là sẽ bị đối thủ khác vượt qua, bỏ lại”, Khoa cười.
Hóa ra, với người đàn ông này, phải là nghĩ nhanh, đi nhanh và tiến chắc. Không thế, có lẽ không “trụ” lại được ở môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt của thương thường, và của cả FPT. FPT Telecom không chỉ ấp ủ các kế hoạch đầu tư vào truyền hình, đi theo chiến lược chung của Tập đoàn là xây dựng nền tảng và ứng dụng cho khách hàng trên nền tảng điện toán đám mây và hệ thống xử lý dữ liệu cỡ lớn. Chiến lược trong 5 năm tới FPT Telecom vẫn sẽ giữ vững vị trí trong top 3, sau Viettel, VNPT về cung cấp các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin. “Ước mơ làm di động cũng vẫn còn. Chúng tôi vẫn còn cơ hội để làm điều đó”, Khoa bảo thế.
Rất chân tình, Khoa kể, để có được thành công hôm nay, anh cũng đã phải trả giá nhiều. Thời gian cho gia đình là một ví dụ. Năm 2011, anh chỉ ở nhà trọn vẹn 60 ngày, còn năm ngoái là 27 ngày. Nhưng hạnh phúc gia đình, với anh, luôn là thành công lớn nhất của cuộc đời mình. Thành công thứ hai, đó là một sự nghiệp như trong mơ. “Nói mơ, không có nghĩa là nó đến một cách bất ngờ, mà là ngày xưa, khi bắt đầu vào làm việc ở FPT, đã mơ có một ngày như thế”.
Tôi cũng tin điều đó. Mọi người ở FPT cũng tin điều đó. Bởi Nguyễn Văn Khoa, suốt 16 năm qua, đã luôn làm việc và cống hiến không mệt mỏi cho FPT. Và vì thế, đúng như anh nói, điều anh thích nhất chính là làm việc trong ngành này, mọi thứ thay đổi thật nhanh chóng, ước mơ vì thế không bao giờ ngừng lại. Mà còn ước mơ, còn hoài bão, thì sẽ còn những thành công ở phía trước.
huongnghiep24h.net
1.
Là tôi thấy Khoa trẻ, ít ra là so với hình dung của mình trước khi gặp
anh. Chứ Khoa bảo, anh không hề trẻ để ngồi vào chiếc ghế CEO của FPT
Telecom, từ ngày 1/1/2012. Vì anh đã “trót” lấy vợ từ năm 26 tuổi,
“trót” gắn bó cả một thời trai trẻ ở FPT. Và trước khi chính thức nhận
chức Tổng giám đốc của FPT Telecom, đã có một thời gian làm Phó tổng
giám đốc thường trực. “Một công ty chuyên về công nghệ viễn thông, thì
cần những người điều hành trẻ, xông xáo, bản lĩnh”, Khoa nói thế.Khoa biết FPT từ năm 1997, khi đang là sinh viên năm thứ hai, Khoa Du lịch của Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội), và khi FPT đang rất “nổi” với mạng Trí tuệ Việt Nam. Biết, mê, rồi xin đến làm việc bằng được.
Lúc đầu là làm bán thời gian, như một nhân viên kỹ thuật “nửa mùa”, ngoài giờ học trên lớp, thì suốt ngày rong ruổi xe máy khắp Hà Nội để cài đặt mạng cho khách hàng. Cuối năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu có mạng Internet, Khoa lại cùng các đồng sự mày mò, tìm tòi để phát triển.
“Tôi có may mắn được làm việc cùng và học hỏi những ‘người thầy’ giỏi. Người cho tôi biết về kỹ thuật, người dạy kinh doanh, người bày cách quản trị”, Nguyễn Văn Khoa kể thế và bảo, cũng xác định, các bạn sinh viên khác phải mất 5 năm trên ghế nhà trường để học về công nghệ, Khoa cũng sẽ “chi” 5 năm của cuộc đời mình để học ở “trường FPT”.
Có điều, Khoa vừa học, vừa làm, vừa tích lũy kinh nghiệm. Học trái nghề, nên Khoa biết, chẳng có cách nào khác là phải tự học hỏi, phải làm việc thật nhiều. Làm từ sáng đến 12 giờ đêm, có khi ngủ lại ở công ty. Người khác, chỉ cần làm đủ 8 tiếng một ngày, mình thì cần nhiều hơn. Cứ tâm niệm rằng, mình làm 8-10 tiếng một ngày trong nhiều năm, thì sẽ làm và học được nhiều hơn họ.
Cần cù, chăm chỉ thế, nên năm 2003, có thể nói, Khoa đã “tốt nghiệp trường FPT”, chậm hơn 4 năm so với lần tốt nghiệp đại học thứ nhất, năm 1999. Lúc ấy, cũng đã trải qua 5 năm kinh qua đủ vị trí trong FPT Telecom, từ nhân viên hỗ trợ kỹ thuật, rồi nhân viên kinh doanh, trưởng phòng, nên cùng với “lễ tốt nghiệp”, Khoa được tin tưởng giao phó làm Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng của FPT Telecom.
“Khi ấy, FPT bắt đầu cung cấp dịch vụ ADSL. Và tôi, một ‘anh’ hoàn toàn ngoài ngành đã được giao nhiệm vụ ấy. Nhưng thực ra, sau 5 năm ăn, ngủ và làm việc cật lực, say mê với FPT, tôi đủ tự tin về mặt kỹ thuật. Cái thiếu, chỉ là con người. Tôi phải tìm người hỗ trợ và rất may, rất đông người ủng hộ”.
Có người ủng hộ, nên ADSL của FPT chỉ 6 tháng sau gần như đã phủ khắp Hà Nội. Những trạm thu phát sóng, nhìn chẳng khác nào chiếc chuồng gà, nhưng có sứ mạng thật vĩ đại và có lẽ, khi ấy, là một cuộc “cách mạng” đối với dịch vụ cung cấp ADSL ở Việt Nam.
Vượt qua được cái “ngưỡng” quan trọng nhất, Khoa cứ từ từ thẳng tiến. Muốn có tầm nhìn rộng hơn, Khoa xa Hà Nội, tới phát triển thị trường mới ở Hải Phòng, rồi TP.HCM, 2 năm sau lại sang Campuchia… Khoa đi miết, lang thang khắp mọi xó xỉnh, ngóc ngách của các thị trường mới để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cấp khả năng cung cấp dịch vụ. Đi nhiều đến nỗi, hồi năm 2003, khi cưới vợ, Khoa chỉ kịp về nhà trước lễ cưới 3 ngày.
Khoa là thế. Đã muốn làm gì là quyết tâm làm bằng được, với sự say mê, sức làm việc không mệt mỏi. Những đồng nghiệp của Khoa trong FPT đã nhận xét về anh như vậy. Còn Khoa bảo, đó cũng là bài học mà anh học được từ người thầy Trương Đình Anh, rằng muốn làm gì thì phải tập trung sức lực làm tới cùng, không được từ bỏ.
2.
Không bao giờ được từ bỏ, nên tính đến nay, Nguyễn Văn Khoa đã có 16 năm làm việc ở FPT, trải qua gần như hầu hết các vị trí ở FPT Telecom. Cũng vì vậy mà anh hiểu rõ Công ty đến từng chân tơ kẽ tóc, từ con người, đến mô hình hoạt động…, rất thuận lợi khi ngồi vào “chiếc ghế nóng” ở FPT Telecom.
Cũng phải, 16 năm ở FPT và có lẽ, sẽ còn lâu hơn nữa, khi trọng trách hiện thời của anh là gánh vác FPT Telecom, với gần 5.000 nhân viên. Nếu đến FPT vì cái duyên, vì sự may mắn, thì Khoa ở lại FPT là vì sự đam mê, sự gắn bó dường như là máu thịt với các đồng nghiệp của mình. Vì ở FPT có môi trường làm việc tuyệt vời, nơi mà mọi người đều có thể khẳng định năng lực và cái tôi cá nhân của mình.
Khoa kể, từ ngày anh lên làm Tổng giám đốc FPT Telecom, điều lớn nhất mà anh làm được có lẽ là giúp cán bộ, nhân viên có được sự cân bằng cần thiết trong kinh doanh, để họ biết lùi lại phía sau và nhận rõ mọi cơ hội, thách thức, cũng như những rủi ro mà mình sẽ phải đối mặt.
“Kết quả kinh doanh thành công của năm qua là sự kế thừa của những năm trước. Cái được lớn nhất của tôi kể từ khi làm Tổng giám đốc FPT Telecom là như vậy: xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhân viên kết nối chặt chẽ hơn, một sự kết nối theo kiểu tầng tầng, lớp lớp để mang lại sức mạnh cho Công ty”, Nguyễn Văn Khoa nói và kể rằng, khi bắt đầu nhận chức, anh đã đưa ra hai sự lựa chọn: một là tập trung cho kinh doanh, cho kế hoạch doanh thu, lợi nhuận, hai là phát triển tổ chức.
Phương án thứ hai được lựa chọn, để dù doanh thu, lợi nhuận có thể chậm hơn, nhưng lại bền vững hơn. Nói là vậy, nhưng thực tế, năm 2012 vừa qua, FPT Telecom vẫn có lợi nhuận cao nhất Tập đoàn. Và tất nhiên, vai trò của Tổng giám đốc Nguyễn Văn Khoa là không nhỏ.
Luôn hiểu mình là một “leadership”, là người đứng đầu, người ra các quyết định, ở FPT - yếu tố này cực kỳ được coi trọng, nhưng Khoa bảo, anh chỉ như chiếc “cầu sau của xe cải tiến”. Nghĩa là anh muốn lùi lại đằng sau để giúp đồng nghiệp của mình phát triển một cách nhanh nhất.
“Nếu tôi ở phía sau, có người đi lệch, tôi sẽ biết để điều chỉnh. Tôi cũng muốn lùi lại phía sau, để tạo một không gian làm việc thật rộng lớn cho nhân viên, để họ có mọi cơ hội để phát triển”, Khoa cười nhẹ.
Hóa ra, Khoa không… trẻ như tôi nghĩ. Ở anh có một sự điềm tĩnh đến kỳ lạ, mà ở vào tuổi của mình, không mấy người có được. Càng lạ hơn, khi Khoa nói, điểm nổi trội nhất của anh chính là khả năng thỏa hiệp. Thực ra, tôi không thích hai chữ “thỏa hiệp”. Nói đúng hơn, theo cách nghĩ của tôi, đó là khả năng dẫn dắt, đoàn kết mọi người trong Công ty, khả năng thuyết phục mọi người cùng đồng tâm nhất trí theo đuổi chiến lược phát triển của FPT.
3.
Năm 2012, FPT Telecom giữ vị trí là đơn vị có lợi nhuận cao nhất Tập đoàn, với 685 tỷ đồng. Còn năm nay, kế hoạch doanh thu và lợi nhuận là 4.500 tỷ đồng và 855 tỷ đồng. 4 tháng đầu năm, FPT đã đạt 115% kế hoạch doanh thu và lợi nhuận. Âu cũng là một sự khởi đầu cho những thành công của năm thứ hai, Nguyễn Văn Khoa giữ cương vị CEO của FPT Telecom.
Nhưng anh bảo, ấp ủ của anh còn nhiều lắm. Trong chiến lược toàn cầu hóa, ngày 13/6 tới đây, FPT Telecom sẽ mở thêm chi nhánh thứ 4 ở Xiêm Riệp, sau đó là tháng 8, với chi nhánh ở Sihanoukville (Campuchia). Có mặt ở 5 thành phố chính của Campuchia rồi, FTP Telecom sẽ “đi sâu, đánh chắc”, “thâm canh” thị trường đầy tiềm năng này, gia tăng nhiều dịch vụ cho khách hàng.
Sau Campuchia, trong chiến lược của mình, FPT Telecom còn hướng đến Lào, Myanmar, Bangladesh và một số thị trường Nam Mỹ khác. Chiến lược đã có, mọi thứ đã sẵn sàng, cái cần bây giờ là chuẩn bị cho nghiên cứu và phát triển, cho nguồn lực…
“Vậy sớm nhất là bao giờ, FPT Telecom có thể vươn sang nước khác?”. Đặt câu hỏi thế, nghĩ rằng con số cũng ít nhất là 1 năm, nhưng Khoa bảo, chỉ 3 tháng thôi. “Nhanh thế ư?”. “Phải nhanh chứ. Vì ở cái ngành này, chỉ chậm một chút là… chết. Chậm có nghĩa là sẽ bị đối thủ khác vượt qua, bỏ lại”, Khoa cười.
Hóa ra, với người đàn ông này, phải là nghĩ nhanh, đi nhanh và tiến chắc. Không thế, có lẽ không “trụ” lại được ở môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt của thương thường, và của cả FPT. FPT Telecom không chỉ ấp ủ các kế hoạch đầu tư vào truyền hình, đi theo chiến lược chung của Tập đoàn là xây dựng nền tảng và ứng dụng cho khách hàng trên nền tảng điện toán đám mây và hệ thống xử lý dữ liệu cỡ lớn. Chiến lược trong 5 năm tới FPT Telecom vẫn sẽ giữ vững vị trí trong top 3, sau Viettel, VNPT về cung cấp các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin. “Ước mơ làm di động cũng vẫn còn. Chúng tôi vẫn còn cơ hội để làm điều đó”, Khoa bảo thế.
Rất chân tình, Khoa kể, để có được thành công hôm nay, anh cũng đã phải trả giá nhiều. Thời gian cho gia đình là một ví dụ. Năm 2011, anh chỉ ở nhà trọn vẹn 60 ngày, còn năm ngoái là 27 ngày. Nhưng hạnh phúc gia đình, với anh, luôn là thành công lớn nhất của cuộc đời mình. Thành công thứ hai, đó là một sự nghiệp như trong mơ. “Nói mơ, không có nghĩa là nó đến một cách bất ngờ, mà là ngày xưa, khi bắt đầu vào làm việc ở FPT, đã mơ có một ngày như thế”.
Tôi cũng tin điều đó. Mọi người ở FPT cũng tin điều đó. Bởi Nguyễn Văn Khoa, suốt 16 năm qua, đã luôn làm việc và cống hiến không mệt mỏi cho FPT. Và vì thế, đúng như anh nói, điều anh thích nhất chính là làm việc trong ngành này, mọi thứ thay đổi thật nhanh chóng, ước mơ vì thế không bao giờ ngừng lại. Mà còn ước mơ, còn hoài bão, thì sẽ còn những thành công ở phía trước.
huongnghiep24h.net
Niềm tin của doanh nghiệp đang trở lại
Hôm qua (ngày 30/5), Quốc hội đã hoàn thành thảo luận tại
Hội trường về tình hình kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2013. Trao
đổi với phóng viên Báo Đầu tư, TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam bày tỏ sự
lạc quan hơn về tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Thưa ông, so với hồi đầu năm, dường như ông có vẻ lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh?
Hồi đầu năm, tôi rất lo ngại trước thực trạng nhiều doanh nghiệp (DN) có tâm lý buông xuôi, chờ thời, co cụm. Nếu tâm lý này lan rộng và trở thành xu hướng thì rất đáng lo ngại.
Bởi một khi DN - lực lượng lòng cốt để phát triển kinh tế - mà buông xuôi, thì các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, mà cụ thể ở đây là Nghị quyết 02/NQ-CP được Chính phủ ban hành từ đầu năm, sẽ chẳng đạt nhiều hiệu quả.
Song rất mừng là tâm lý tiêu cực trên đã giảm, thậm chí tôi còn thấy niềm tin của DN đối với thị trường, đối với các giải pháp mà Chính phủ đã đặt ra và đang thực hiện từng bước bắt đầu có dấu hiệu quay trở lại.
Căn cứ vào đâu mà ông cho rằng, niềm tin của DN có dấu hiệu quay trở lại?
Trong tháng 5, cả nước có hơn 7.200 DN thành lập mới, với số vốn đăng ký hơn 33.000 tỷ đồng, cho dù giảm 11% về số DN và 25% về vốn đăng ký so với tháng 4, nhưng tính chung 5 tháng đầu năm, số DN thành lập mới vẫn tăng gần 5% so với cùng kỳ năm 2012.
Điều đáng nói, đây là lần đầu tiên kể từ đầu năm, số DN đăng ký mới tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Cũng trong tháng 5 này, cả nước chỉ có 570 DN giải thể và 3.020 DN ngừng hoạt động, giảm theo mức tương ứng 27% và 15% so với tháng trước. Bên cạnh đó, trong vòng 30 ngày vừa qua, đã có thêm hơn 500 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại thị trường, nâng tổng số DN quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến nay lên con số 8.792.
Cho dù số DN thành lập mới và hoạt động trở lại chưa nhiều, nhưng là dấu hiệu đáng mừng cho thấy, bước đầu, niềm tin của DN đã quay trở lại.
Dẫu sao thì những con số trên chưa nói lên nhiều điều, thưa ông?
Nếu chỉ nhìn đơn thuần vào số DN thành lập mới; DN giải thể, phá sản; DN quay trở lại hoạt động thì quả thật cũng chưa nói lên nhiều điều. Song nếu phân tích kỹ thì mới thấy số liệu trên rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Cụ thể, số DN thành lập mới 3 tháng đầu năm giảm tới 14%, so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm chỉ còn giảm không đáng kể (1,2%) và đến 5 tháng đầu năm số DN thành lập mới đã tăng gần 5% so với cùng kỳ. Tương tự, số DN tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm cao hơn 26% so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm cao hơn gần 17%, nhưng đến 5 tháng đầu năm, số DN tạm ngừng hoạt động chỉ còn cao hơn 13% so với cùng kỳø năm 2012.
Nhưng số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5 bắt đầu giảm so với 4 tháng đầu năm?
Theo số liệu Chính phủ báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5 này, thì trong 4 tháng đầu năm nay, có 8.300 DN tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 đã hoạt động trở lại, tức là bình quân mỗi tháng có hơn 2.000 DN quay trở lại hoạt động, gấp khoảng 4 lần so với số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5. Một điều đáng mừng là, số DN công nghiệp chế biến, chế tạo quay trở lại hoạt động khá lớn.
Như vậy có thể nói, những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường mà Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu phát huy hiệu quả?
Những giải pháp mà Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP trên thực tế là nhằm mục tiêu vực dậy niềm tin của DN vào thị trường, vào sự điều hành của Chính phủ và các bộ ngành, địa phương. Tôi nhấn mạnh rằng, các giải pháp đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP rất đúng, rất trúng, rất kịp thời, rất đồng bộ, nhưng trong 2-3 tháng đầu năm triển khai hơi chậm, khiến niềm tin của DN có phần lung lay.
Việc triển khai chậm Nghị quyết 02/NQ-CP cũng có nguyên nhân khách quan là gần như cả tháng 2 hoạt động sản xuất - kinh doanh bị ngưng trệ do rơi vào dịp Tết Nguyên đán. Rất mừng, việc triển khai các giải pháp đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu được thực hiện kể từ tháng 3, nên niềm tin của DN đã được cải thiện, dù chưa nhiều, nhưng cũng góp phần tạo nên hy vọng mới cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng còn lại của năm 2013, năm 2014 và 2015 để có thể hy vọng vào việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015.
Tôi muốn nói thêm rằng, niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh mới chỉ bắt đầu quay trở lại, chưa tạo ra cú hích, chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực ở mức độ đột phá.
Để tiếp tục khôi phục, củng cố niềm tin cho DN, theo tôi, từ nay đến cuối năm không cần phải đặt ra các chính sách gì mới nữa, thay vào đó phải triển khai quyết liệt, đồng bộ tất cả các giải pháp đã được đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP. - Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Thưa ông, so với hồi đầu năm, dường như ông có vẻ lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh?
Hồi đầu năm, tôi rất lo ngại trước thực trạng nhiều doanh nghiệp (DN) có tâm lý buông xuôi, chờ thời, co cụm. Nếu tâm lý này lan rộng và trở thành xu hướng thì rất đáng lo ngại.
Bởi một khi DN - lực lượng lòng cốt để phát triển kinh tế - mà buông xuôi, thì các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, mà cụ thể ở đây là Nghị quyết 02/NQ-CP được Chính phủ ban hành từ đầu năm, sẽ chẳng đạt nhiều hiệu quả.
Song rất mừng là tâm lý tiêu cực trên đã giảm, thậm chí tôi còn thấy niềm tin của DN đối với thị trường, đối với các giải pháp mà Chính phủ đã đặt ra và đang thực hiện từng bước bắt đầu có dấu hiệu quay trở lại.
Căn cứ vào đâu mà ông cho rằng, niềm tin của DN có dấu hiệu quay trở lại?
Trong tháng 5, cả nước có hơn 7.200 DN thành lập mới, với số vốn đăng ký hơn 33.000 tỷ đồng, cho dù giảm 11% về số DN và 25% về vốn đăng ký so với tháng 4, nhưng tính chung 5 tháng đầu năm, số DN thành lập mới vẫn tăng gần 5% so với cùng kỳ năm 2012.
Điều đáng nói, đây là lần đầu tiên kể từ đầu năm, số DN đăng ký mới tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Cũng trong tháng 5 này, cả nước chỉ có 570 DN giải thể và 3.020 DN ngừng hoạt động, giảm theo mức tương ứng 27% và 15% so với tháng trước. Bên cạnh đó, trong vòng 30 ngày vừa qua, đã có thêm hơn 500 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại thị trường, nâng tổng số DN quay trở lại hoạt động từ đầu năm đến nay lên con số 8.792.
Cho dù số DN thành lập mới và hoạt động trở lại chưa nhiều, nhưng là dấu hiệu đáng mừng cho thấy, bước đầu, niềm tin của DN đã quay trở lại.
Dẫu sao thì những con số trên chưa nói lên nhiều điều, thưa ông?
Nếu chỉ nhìn đơn thuần vào số DN thành lập mới; DN giải thể, phá sản; DN quay trở lại hoạt động thì quả thật cũng chưa nói lên nhiều điều. Song nếu phân tích kỹ thì mới thấy số liệu trên rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Cụ thể, số DN thành lập mới 3 tháng đầu năm giảm tới 14%, so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm chỉ còn giảm không đáng kể (1,2%) và đến 5 tháng đầu năm số DN thành lập mới đã tăng gần 5% so với cùng kỳ. Tương tự, số DN tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm cao hơn 26% so với cùng kỳ năm 2012, thì đến 4 tháng đầu năm cao hơn gần 17%, nhưng đến 5 tháng đầu năm, số DN tạm ngừng hoạt động chỉ còn cao hơn 13% so với cùng kỳø năm 2012.
Nhưng số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5 bắt đầu giảm so với 4 tháng đầu năm?
Theo số liệu Chính phủ báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5 này, thì trong 4 tháng đầu năm nay, có 8.300 DN tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 đã hoạt động trở lại, tức là bình quân mỗi tháng có hơn 2.000 DN quay trở lại hoạt động, gấp khoảng 4 lần so với số DN quay trở lại hoạt động trong tháng 5. Một điều đáng mừng là, số DN công nghiệp chế biến, chế tạo quay trở lại hoạt động khá lớn.
Như vậy có thể nói, những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường mà Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu phát huy hiệu quả?
Những giải pháp mà Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP trên thực tế là nhằm mục tiêu vực dậy niềm tin của DN vào thị trường, vào sự điều hành của Chính phủ và các bộ ngành, địa phương. Tôi nhấn mạnh rằng, các giải pháp đặt ra tại Nghị quyết 02/NQ-CP rất đúng, rất trúng, rất kịp thời, rất đồng bộ, nhưng trong 2-3 tháng đầu năm triển khai hơi chậm, khiến niềm tin của DN có phần lung lay.
Việc triển khai chậm Nghị quyết 02/NQ-CP cũng có nguyên nhân khách quan là gần như cả tháng 2 hoạt động sản xuất - kinh doanh bị ngưng trệ do rơi vào dịp Tết Nguyên đán. Rất mừng, việc triển khai các giải pháp đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP đã bắt đầu được thực hiện kể từ tháng 3, nên niềm tin của DN đã được cải thiện, dù chưa nhiều, nhưng cũng góp phần tạo nên hy vọng mới cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng còn lại của năm 2013, năm 2014 và 2015 để có thể hy vọng vào việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015.
Tôi muốn nói thêm rằng, niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh mới chỉ bắt đầu quay trở lại, chưa tạo ra cú hích, chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực ở mức độ đột phá.
Để tiếp tục khôi phục, củng cố niềm tin cho DN, theo tôi, từ nay đến cuối năm không cần phải đặt ra các chính sách gì mới nữa, thay vào đó phải triển khai quyết liệt, đồng bộ tất cả các giải pháp đã được đặt ra trong Nghị quyết 02/NQ-CP. - Tham khảo thêm: huongnghiep24h.net
Nguy cơ “thua trên sân nhà” vì hạn mức chi phí tiếp thị
Phiên thảo luận tại Quốc hội hôm 29/5 về Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp sửa đổi đã ghi nhận nhiều tiếng nói đề nghị bỏ hạn mức tiếp
thị quảng cáo, cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
Không nên “một mình một chợ”
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) cho biết cơ bản tán thành việc nâng mức khống chế đối với chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới từ 10% lên 15%, tuy nhiên có “ba đề nghị”.
Thứ nhất, cần quy định lộ trình tiến tới bỏ mức khống chế nêu trên để phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, quy định mức khống chế được trừ theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo để tránh sự phức tạp trong tính toán, đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch.
Thứ ba, bổ sung quy định về tỷ lệ khống chế đối với lĩnh vực kinh doanh đặc thù, các mặt hàng độc quyền, không cần phải chi phí cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị như điện, xăng dầu, kinh doanh nước sạch.
“Việc quy định chung tỷ lệ khống chế quảng cáo của các mặt hàng độc quyền với các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có tính cạnh tranh sẽ không đảm bảo tính công bằng”, bà nói.
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cũng đồng tình với nâng từ 10 lên 15%, tuy nhiên ông nhận thấy vẫn chưa hợp lý bởi vì nếu quy định 15% với doanh nghiệp lớn thì đủ nhưng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập thì vẫn không đủ.
“Tôi đề nghị sửa theo hướng theo tỷ lệ % mà chúng ta sản xuất kinh doanh, % theo doanh thu, tính tỷ lệ % thì hợp lý hơn. Nếu chúng ta ấn định 15% thì doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí. Hướng tương lai của thế giới là người ta bỏ cái này, doanh nghiệp tự quyết định", đại biểu Thuyền nói.
Đáng chú ý là những ý kiến đến từ các đại biểu - doanh nhân, những người cảm nhận rõ nhất về những vướng mắc do quy định khống chế hạn mức hiện hành.
Theo đại biểu Mai Hữu Tín (Bình Dương), việc tăng mức khống chế từ 10 lên 15% theo dự thảo là “một bước tiến sau rất nhiều than phiền của doanh nghiệp từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời”.
Tuy nhiên, ông Tín không cho rằng việc bỏ tỷ lệ khống chế sẽ làm giảm nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách. Doanh nghiệp buộc phải chi các khoản này để tồn tại, để cạnh tranh được, để tăng thị phần và để gia tăng lợi nhuận của chính họ. Không có lý do gì để chi tiền nhiều hơn nhằm giảm lợi nhuận của họ và dẫn đến giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
“Thực tế những doanh nghiệp trong một số ít ngành hàng mới cần chi ở mức cao, trong khi đại đa số doanh nghiệp không cần chi nhiều. Đặt ra giới hạn tỷ lệ chi trong khi hầu hết các nước không áp dụng theo tôi không phải là một cách làm hay mà còn tự trói tay các doanh nghiệp của chúng ta trong cạnh tranh thay vì hỗ trợ cho họ. Tôi đề nghị chúng ta bỏ tỷ lệ khống chế đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại ngay trong lần sửa đổi này”, ông Tín nói.
Giải pháp dung hòa
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng hiểu rằng việc bỏ ngay quy định này là một thử thách khó vượt qua, đặc biệt trong bối cảnh nguồn thu sụt giảm hiện nay. Chính vì vậy, họ đề nghị có giải pháp dung hòa là áp tỷ lệ hạn chế trên % doanh thu thay vì % trên chi phí hợp lý.
Đại biểu - doanh nhân Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng trên thế giới hiện nay chỉ có hai nước áp dụng khống chế tỷ lệ phần trăm trên doanh nghiệp là Trung Quốc và Lithuania. Nếu khống chế tỷ lệ phần trăm như dự thảo thì vừa phức tạp, vừa khó khăn cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu của mình, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hãng nước ngoài bán hàng vào thị trường của ta có tiềm lực mạnh, thương hiệu lớn và có nguồn lực tài trợ từ công ty mẹ nước ngoài tài trợ cho họ để chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp nước ta.
“Doanh nghiệp Việt Nam có thể bị thua ngay trên sân nhà, bởi chính những quy định của chúng ta”, vị đại biểu đang điều hành một hãng bia, nơi cần chi lớn cho tiếp thị quảng cáo hàng năm, nói.
Cũng từ góc nhìn doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cho rằng trên thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, sản phẩm cũng khác nhau nên nhu cầu về quảng cáo, tiếp thị cũng hoàn toàn không giống nhau, chẳng hạn kinh doanh bia, mỹ phẩm sẽ có chi phí quảng cáo khác với sản xuất đồ tiêu dùng, thực phẩm.
Việc quy định một tỷ lệ chung cho các ngành hàng, theo bà Hường, không những bất cập trên thực tế mà còn kiềm chế việc bán hàng và kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác chi phí được trừ chỉ đến cuối năm hay quý 1 của năm sau doanh nghiệp mới có thể biết được chính xác bao nhiêu. Do đó doanh nghiệp cũng không tính được kế hoạch chi quảng cáo cụ thể.
“Tôi đề nghị ban soạn thảo xem xét để có thể điều chỉnh chi phí quảng cáo hoa hồng để tính trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thay vì tính trên tổng số chi phí được trừ như dự thảo luật để đảm bảo tính chủ động cho doanh nghiệp”, bà Hường nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, ông Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) cũng cho rằng nên quy định về chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới theo tỷ lệ % trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo luật để đảm bảo tính minh bạch, dễ hạch toán.
Không nên “một mình một chợ”
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) cho biết cơ bản tán thành việc nâng mức khống chế đối với chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới từ 10% lên 15%, tuy nhiên có “ba đề nghị”.
Thứ nhất, cần quy định lộ trình tiến tới bỏ mức khống chế nêu trên để phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, quy định mức khống chế được trừ theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo để tránh sự phức tạp trong tính toán, đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch.
Thứ ba, bổ sung quy định về tỷ lệ khống chế đối với lĩnh vực kinh doanh đặc thù, các mặt hàng độc quyền, không cần phải chi phí cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị như điện, xăng dầu, kinh doanh nước sạch.
“Việc quy định chung tỷ lệ khống chế quảng cáo của các mặt hàng độc quyền với các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có tính cạnh tranh sẽ không đảm bảo tính công bằng”, bà nói.
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cũng đồng tình với nâng từ 10 lên 15%, tuy nhiên ông nhận thấy vẫn chưa hợp lý bởi vì nếu quy định 15% với doanh nghiệp lớn thì đủ nhưng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập thì vẫn không đủ.
“Tôi đề nghị sửa theo hướng theo tỷ lệ % mà chúng ta sản xuất kinh doanh, % theo doanh thu, tính tỷ lệ % thì hợp lý hơn. Nếu chúng ta ấn định 15% thì doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí. Hướng tương lai của thế giới là người ta bỏ cái này, doanh nghiệp tự quyết định", đại biểu Thuyền nói.
Đáng chú ý là những ý kiến đến từ các đại biểu - doanh nhân, những người cảm nhận rõ nhất về những vướng mắc do quy định khống chế hạn mức hiện hành.
Theo đại biểu Mai Hữu Tín (Bình Dương), việc tăng mức khống chế từ 10 lên 15% theo dự thảo là “một bước tiến sau rất nhiều than phiền của doanh nghiệp từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời”.
Tuy nhiên, ông Tín không cho rằng việc bỏ tỷ lệ khống chế sẽ làm giảm nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách. Doanh nghiệp buộc phải chi các khoản này để tồn tại, để cạnh tranh được, để tăng thị phần và để gia tăng lợi nhuận của chính họ. Không có lý do gì để chi tiền nhiều hơn nhằm giảm lợi nhuận của họ và dẫn đến giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
“Thực tế những doanh nghiệp trong một số ít ngành hàng mới cần chi ở mức cao, trong khi đại đa số doanh nghiệp không cần chi nhiều. Đặt ra giới hạn tỷ lệ chi trong khi hầu hết các nước không áp dụng theo tôi không phải là một cách làm hay mà còn tự trói tay các doanh nghiệp của chúng ta trong cạnh tranh thay vì hỗ trợ cho họ. Tôi đề nghị chúng ta bỏ tỷ lệ khống chế đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại ngay trong lần sửa đổi này”, ông Tín nói.
Giải pháp dung hòa
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng hiểu rằng việc bỏ ngay quy định này là một thử thách khó vượt qua, đặc biệt trong bối cảnh nguồn thu sụt giảm hiện nay. Chính vì vậy, họ đề nghị có giải pháp dung hòa là áp tỷ lệ hạn chế trên % doanh thu thay vì % trên chi phí hợp lý.
Đại biểu - doanh nhân Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng trên thế giới hiện nay chỉ có hai nước áp dụng khống chế tỷ lệ phần trăm trên doanh nghiệp là Trung Quốc và Lithuania. Nếu khống chế tỷ lệ phần trăm như dự thảo thì vừa phức tạp, vừa khó khăn cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu của mình, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hãng nước ngoài bán hàng vào thị trường của ta có tiềm lực mạnh, thương hiệu lớn và có nguồn lực tài trợ từ công ty mẹ nước ngoài tài trợ cho họ để chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp nước ta.
“Doanh nghiệp Việt Nam có thể bị thua ngay trên sân nhà, bởi chính những quy định của chúng ta”, vị đại biểu đang điều hành một hãng bia, nơi cần chi lớn cho tiếp thị quảng cáo hàng năm, nói.
Cũng từ góc nhìn doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cho rằng trên thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, sản phẩm cũng khác nhau nên nhu cầu về quảng cáo, tiếp thị cũng hoàn toàn không giống nhau, chẳng hạn kinh doanh bia, mỹ phẩm sẽ có chi phí quảng cáo khác với sản xuất đồ tiêu dùng, thực phẩm.
Việc quy định một tỷ lệ chung cho các ngành hàng, theo bà Hường, không những bất cập trên thực tế mà còn kiềm chế việc bán hàng và kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác chi phí được trừ chỉ đến cuối năm hay quý 1 của năm sau doanh nghiệp mới có thể biết được chính xác bao nhiêu. Do đó doanh nghiệp cũng không tính được kế hoạch chi quảng cáo cụ thể.
“Tôi đề nghị ban soạn thảo xem xét để có thể điều chỉnh chi phí quảng cáo hoa hồng để tính trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thay vì tính trên tổng số chi phí được trừ như dự thảo luật để đảm bảo tính chủ động cho doanh nghiệp”, bà Hường nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, ông Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) cũng cho rằng nên quy định về chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng, môi giới theo tỷ lệ % trên doanh thu thay vì tính trên tổng chi phí được trừ như quy định của dự thảo luật để đảm bảo tính minh bạch, dễ hạch toán.
Doanh nghiệp FDI có cơ hội thoát “án treo” phạm luật
Không chỉ là việc chỉnh sửa “kỹ thuật” thuần túy, việc Chính phủ
trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi điều 170 Luật Doanh nghiệp có thể
xem là một thái độ cầu thị, trước những đòi hỏi từ thực tiễn.
“Thở phào”
Theo dự thảo Luật sửa đổi điều 170 của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11, khoản 2 điều 170 được sửa đổi theo đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày 1/7/2006, có quyền thực hiện đăng ký lại để tổ chức quản lý, hoạt động theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan.
Trường hợp không đăng ký lại, doanh nghiệp tổ chức quản lý và hoạt động theo giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp. Đối với những nội dung không quy định tại giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan.
Trường hợp điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm điều chỉnh, bổ sung đối với những nội dung điều chỉnh, bổ sung.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày 1/7/2006, đã hết thời hạn hoạt động theo quy định tại giấy phép đầu tư sau ngày 1/7/2006 và chưa thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp, được thực hiện thủ tục đăng ký lại để tiếp tục hoạt động. Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật các vấn đề phát sinh kể từ ngày hết hạn hoạt động theo quy định tại giấy phép đầu tư cho đến thời điểm đăng ký lại doanh nghiệp.
Nếu thay đổi này trở thành thực tế, hàng loạt doanh nghiệp FDI sẽ “thở phào” vì thoát khỏi cái “án treo” phạm luật vẫn lơ lửng trên đầu lâu nay, dẫn đến nguy cơ phải chấm dứt hoạt động, giải thể.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 1/7/2011 là thời hạn cuối cùng thực hiện đăng ký lại, trong số 6.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì có 2.916 doanh nghiệp đã đăng ký lại theo quy định của điểm a, khoản 2; còn khoảng 3.000 doanh nghiệp không đăng ký lại theo quy định của điểm b, khoản 2.
Các doanh nghiệp này có tổng số vốn đăng ký là 18,5 tỷ USD, số lao động sử dụng 446.000 người. Đến nay, có một số doanh nghiệp đã hết thời hạn hoạt động quy định tại giấy phép đầu tư nhưng muốn đăng ký lại để tiếp tục hoạt động; một số doanh nghiệp còn thời hạn hoạt động được ghi trong giấy phép đầu tư nhưng muốn được bổ sung, mở rộng ngành nghề kinh doanh.
Trong số này có một số doanh nghiệp đã đầu tư vào Việt Nam trong những năm đầu đổi mới, có đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội như tạo việc làm, nộp ngân sách…, và có nhu cầu được tiếp tục hoạt động lâu dài tại Việt Nam.
Tạo ra tiền lệ?
Việc trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi điều 170 Luật Doanh nghiệp được xem là động thái cầu thị của Chính phủ trước một quy định không hợp lý. Tuy nhiên, hiện cũng có những ý kiến nói rằng việc sửa luật sẽ tạo ra tiền lệ không tốt trong tiến trình hoàn thiện pháp luật.
Một số ý kiến cho rằng việc các doanh nghiệp FDI không thực hiện đăng ký lại trong thời hạn quy định của pháp luật, dù đã được gia hạn hai lần, đã thể hiện một thái độ “nhờn” quy định pháp luật.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết trong quá trình chuẩn bị cho việc sửa đổi, một số ý kiến cho rằng nội dung này đã được sửa đổi, gia hạn thời gian 1 lần năm 2009, nay tiếp tục sửa đổi sẽ không thể hiện được tính tôn nghiêm pháp luật. Mặt khác, dự án Luật doanh nghiệp (sửa đổi) cũng đã được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, dự kiến trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến vào kỳ họp thứ 7, do vậy, chưa cần thiết phải sửa đổi riêng điều 170 của Luật này.
Những lo lắng về việc sẽ tạo ra tiền lệ xấu trong tiến trình làm luật là rất đáng chú ý. Tuy nhiên, đây thực sự là cơ hội để nhìn lại quá trình xây dựng các luật khi còn ở giai đoạn dự thảo.
Trao đổi với VnEconomy gần đây, một chuyên gia luật hàng đầu về đầu tư nước ngoài nói ngay từ thời điểm soạn Luật Doanh nghiệp 2005, đã có những ý kiến nói không cần thiết quy định vấn đề này trong luật để trong tương lai tránh được chuyện "thả gà ra đuổi".
Về nội dung sửa đổi khoản 2, điều 170 của Luật Doanh nghiệp, đa số thành viên Ủy ban Kinh tế tán thành về nội dung sửa đổi như đã nêu, tuy nhiên một số ý kiến khác đề nghị cần quy định rõ trường hợp ưu đãi đầu tư doanh nghiệp đang được hưởng cao hơn so với việc áp dụng theo quy định của pháp luật tại thời điểm điều chỉnh, doanh nghiệp tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư đó đến hết hiệu lực của giấy phép đầu tư.
Ngược lại, có ý kiến cho rằng, tại khoản 2, điều 11 Luật Đầu tư đã có quy định này, do vậy không nên quy định lại trong Luật sửa đổi Điều 170 của Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp đã hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép đầu tư nhưng thực tế vẫn hoạt động, vẫn thực hiện các giao dịch, ký kết các hợp đồng thì cần bổ sung quy định về hiệu lực hồi tố để tránh các hệ quả pháp lý phát sinh. Tuy nhiên, một số ý kiến tán thành với tờ trình của Chính phủ và đề nghị không bổ sung quy định về hiệu lực hồi tố đối với những trường hợp này.
Bên cạnh đó, có những ý kiến đề nghị cần rà soát cụ thể và chỉ cho phép doanh nghiệp đăng ký lại hoặc mở rộng ngành nghề nếu hoạt động đầu tư không vi phạm pháp luật (về bảo vệ môi trường, về thực hiện nghĩa vụ thuế...), phù hợp với quy hoạch, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Theo dự thảo Luật sửa đổi điều 170 của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11, khoản 2 điều 170 được sửa đổi theo đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày 1/7/2006, có quyền thực hiện đăng ký lại để tổ chức quản lý, hoạt động theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan.
Trường hợp không đăng ký lại, doanh nghiệp tổ chức quản lý và hoạt động theo giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp. Đối với những nội dung không quy định tại giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan.
Trường hợp điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư, điều lệ doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm điều chỉnh, bổ sung đối với những nội dung điều chỉnh, bổ sung.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày 1/7/2006, đã hết thời hạn hoạt động theo quy định tại giấy phép đầu tư sau ngày 1/7/2006 và chưa thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp, được thực hiện thủ tục đăng ký lại để tiếp tục hoạt động. Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật các vấn đề phát sinh kể từ ngày hết hạn hoạt động theo quy định tại giấy phép đầu tư cho đến thời điểm đăng ký lại doanh nghiệp.
Nếu thay đổi này trở thành thực tế, hàng loạt doanh nghiệp FDI sẽ “thở phào” vì thoát khỏi cái “án treo” phạm luật vẫn lơ lửng trên đầu lâu nay, dẫn đến nguy cơ phải chấm dứt hoạt động, giải thể.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 1/7/2011 là thời hạn cuối cùng thực hiện đăng ký lại, trong số 6.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì có 2.916 doanh nghiệp đã đăng ký lại theo quy định của điểm a, khoản 2; còn khoảng 3.000 doanh nghiệp không đăng ký lại theo quy định của điểm b, khoản 2.
Các doanh nghiệp này có tổng số vốn đăng ký là 18,5 tỷ USD, số lao động sử dụng 446.000 người. Đến nay, có một số doanh nghiệp đã hết thời hạn hoạt động quy định tại giấy phép đầu tư nhưng muốn đăng ký lại để tiếp tục hoạt động; một số doanh nghiệp còn thời hạn hoạt động được ghi trong giấy phép đầu tư nhưng muốn được bổ sung, mở rộng ngành nghề kinh doanh.
Trong số này có một số doanh nghiệp đã đầu tư vào Việt Nam trong những năm đầu đổi mới, có đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội như tạo việc làm, nộp ngân sách…, và có nhu cầu được tiếp tục hoạt động lâu dài tại Việt Nam.
Tạo ra tiền lệ?
Việc trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi điều 170 Luật Doanh nghiệp được xem là động thái cầu thị của Chính phủ trước một quy định không hợp lý. Tuy nhiên, hiện cũng có những ý kiến nói rằng việc sửa luật sẽ tạo ra tiền lệ không tốt trong tiến trình hoàn thiện pháp luật.
Một số ý kiến cho rằng việc các doanh nghiệp FDI không thực hiện đăng ký lại trong thời hạn quy định của pháp luật, dù đã được gia hạn hai lần, đã thể hiện một thái độ “nhờn” quy định pháp luật.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết trong quá trình chuẩn bị cho việc sửa đổi, một số ý kiến cho rằng nội dung này đã được sửa đổi, gia hạn thời gian 1 lần năm 2009, nay tiếp tục sửa đổi sẽ không thể hiện được tính tôn nghiêm pháp luật. Mặt khác, dự án Luật doanh nghiệp (sửa đổi) cũng đã được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, dự kiến trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến vào kỳ họp thứ 7, do vậy, chưa cần thiết phải sửa đổi riêng điều 170 của Luật này.
Những lo lắng về việc sẽ tạo ra tiền lệ xấu trong tiến trình làm luật là rất đáng chú ý. Tuy nhiên, đây thực sự là cơ hội để nhìn lại quá trình xây dựng các luật khi còn ở giai đoạn dự thảo.
Trao đổi với VnEconomy gần đây, một chuyên gia luật hàng đầu về đầu tư nước ngoài nói ngay từ thời điểm soạn Luật Doanh nghiệp 2005, đã có những ý kiến nói không cần thiết quy định vấn đề này trong luật để trong tương lai tránh được chuyện "thả gà ra đuổi".
Về nội dung sửa đổi khoản 2, điều 170 của Luật Doanh nghiệp, đa số thành viên Ủy ban Kinh tế tán thành về nội dung sửa đổi như đã nêu, tuy nhiên một số ý kiến khác đề nghị cần quy định rõ trường hợp ưu đãi đầu tư doanh nghiệp đang được hưởng cao hơn so với việc áp dụng theo quy định của pháp luật tại thời điểm điều chỉnh, doanh nghiệp tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư đó đến hết hiệu lực của giấy phép đầu tư.
Ngược lại, có ý kiến cho rằng, tại khoản 2, điều 11 Luật Đầu tư đã có quy định này, do vậy không nên quy định lại trong Luật sửa đổi Điều 170 của Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp đã hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép đầu tư nhưng thực tế vẫn hoạt động, vẫn thực hiện các giao dịch, ký kết các hợp đồng thì cần bổ sung quy định về hiệu lực hồi tố để tránh các hệ quả pháp lý phát sinh. Tuy nhiên, một số ý kiến tán thành với tờ trình của Chính phủ và đề nghị không bổ sung quy định về hiệu lực hồi tố đối với những trường hợp này.
Bên cạnh đó, có những ý kiến đề nghị cần rà soát cụ thể và chỉ cho phép doanh nghiệp đăng ký lại hoặc mở rộng ngành nghề nếu hoạt động đầu tư không vi phạm pháp luật (về bảo vệ môi trường, về thực hiện nghĩa vụ thuế...), phù hợp với quy hoạch, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
VNPT phải chấm dứt đầu tư ngoài ngành trước 2015
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cần chấm dứt tình
trạng đầu tư ra ngoài ngành, ngoài lĩnh vực kinh doanh chính trước năm
2015.
Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, mục tiêu cơ bản của tái cấu trúc VNPT là đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh để "hình thành một tập đoàn viễn thông mạnh, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao, giữ vai trò chủ lực trên thị trường viễn thông Việt Nam".
Theo đó, đề án tái cấu trúc VNPT trên nguyên tắc, VNPT tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính là viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ ứng dụng viễn thông (phát thanh, truyền hình, nội dung số và các dịch vụ đa phương tiện khác); từng bước tiến hành thoái vốn khỏi các lĩnh vực không phải là ngành nghề kinh doanh chính, hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính, những lĩnh vực kinh doanh không hiệu quả; chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, ngoài lĩnh vực kinh doanh chính trước năm 2015.
VNPT phải rà soát, xác định số lượng, danh sách cụ thể các doanh nghiệp VNPT nắm giữ 100%, nắm trên 75%, từ 65 -75%, từ 50- dưới 65% và dưới 50% vốn điều lệ hoặc tiến hành thoái vốn để không giữ cổ phần với kế hoạch cụ thể.
Tập đoàn này cũng phải đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện cho được mục tiêu sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp theo các phương án đã được phê duyệt, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong các năm 2013 – 2015. Kiên quyết sắp xếp, cơ cấu lại hoặc giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo quy định.
Một vấn đề đáng chú ý nữa, theo văn bản chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, việc tái cấu trúc VNPT đồng thời phải giữ vững và phát huy các thương hiệu viễn thông VinaPhone, MobiFone. Ngoài ra, thực hiện cổ phần hóa và thoái vốn khỏi Công ty Thông tin di động (VMS - MobiFone) theo lộ trình phù hợp trên cơ sở kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời tuân thủ pháp luật về sở hữu trong lĩnh vực viễn thông.
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo VNPT phải khẩn trương phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng và hoàn chỉnh đề án tái cơ cấu Tập đoàn trình Bộ trước ngày 30/6/2013 để Bộ xin ý kiến đóng góp của các bộ, ngành liên quan và trình Thủ tướng Chính phủ vào đầu tháng 9/2013.
ảnh sưu tầm
Đó là một trong những nội dung đáng chú ý về tái
cơ cấu VNPT, theo văn bản 1357/BTTTT-CVT mà Bộ Thông tin và Truyền thông
vừa gửi tập đoàn này, về việc xây dựng, hoàn chỉnh đề án tái cơ cấu
VNPT.Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, mục tiêu cơ bản của tái cấu trúc VNPT là đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh để "hình thành một tập đoàn viễn thông mạnh, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao, giữ vai trò chủ lực trên thị trường viễn thông Việt Nam".
Theo đó, đề án tái cấu trúc VNPT trên nguyên tắc, VNPT tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính là viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ ứng dụng viễn thông (phát thanh, truyền hình, nội dung số và các dịch vụ đa phương tiện khác); từng bước tiến hành thoái vốn khỏi các lĩnh vực không phải là ngành nghề kinh doanh chính, hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính, những lĩnh vực kinh doanh không hiệu quả; chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, ngoài lĩnh vực kinh doanh chính trước năm 2015.
VNPT phải rà soát, xác định số lượng, danh sách cụ thể các doanh nghiệp VNPT nắm giữ 100%, nắm trên 75%, từ 65 -75%, từ 50- dưới 65% và dưới 50% vốn điều lệ hoặc tiến hành thoái vốn để không giữ cổ phần với kế hoạch cụ thể.
Tập đoàn này cũng phải đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện cho được mục tiêu sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp theo các phương án đã được phê duyệt, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong các năm 2013 – 2015. Kiên quyết sắp xếp, cơ cấu lại hoặc giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo quy định.
Một vấn đề đáng chú ý nữa, theo văn bản chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, việc tái cấu trúc VNPT đồng thời phải giữ vững và phát huy các thương hiệu viễn thông VinaPhone, MobiFone. Ngoài ra, thực hiện cổ phần hóa và thoái vốn khỏi Công ty Thông tin di động (VMS - MobiFone) theo lộ trình phù hợp trên cơ sở kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời tuân thủ pháp luật về sở hữu trong lĩnh vực viễn thông.
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo VNPT phải khẩn trương phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng và hoàn chỉnh đề án tái cơ cấu Tập đoàn trình Bộ trước ngày 30/6/2013 để Bộ xin ý kiến đóng góp của các bộ, ngành liên quan và trình Thủ tướng Chính phủ vào đầu tháng 9/2013.
Siêu dự án Formosa muốn tăng vốn lên 28,5 tỷ USD
Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa
Hà Tĩnh vừa đề xuất tăng vốn lên 28,5 tỷ USD.
Nếu đề xuất này được Chính phủ và UBND tỉnh Hà Tĩnh đồng ý, Formosa Hà Tĩnh sẽ tiếp tục là dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Đồng thời, liên hợp gang thép này sẽ có công suất 22,5 triệu tấn so với 7,5 triệu tấn hiện nay, với 6 lò cao thay vì 2 lò cao, tức là quy mô sẽ tăng gấp 3 lần.
Hồi cuối năm 2012, Formosa cũng đã một lần quyết định tăng vốn đầu tư từ 7,9 tỷ USD lên 9,9 tỷ USD và đã được tỉnh Hà Tĩnh cấp chứng nhận đầu tư điều chỉnh.
Hiện tại, Formosa đã khởi công xây dựng lò cao, hạng mục công trình trọng yếu của nhà máy luyện gang thép Formosa Hà Tĩnh. Đây là một dự án thành phần quan trọng trong khu liên hợp có diện tích trên 3.300 ha, trong đó diện tích đất liền là hơn 2.000 ha và diện tích mặt nước trên 1.200ha.
Dự án bao gồm các hạng mục chính là nhà máy luyện giang thép, hệ thống cảng biển nước sâu có năng lực cập tàu 300.000 tấn và nhà máy nhiệt điện công suất 2.100 MW, trong đó quy mô nhà máy thép giai đoạn 1 đạt trên 7 triệu tấn phôi thép/năm.
Formosa đã cam kết sẽ huy động tối đa nguồn lực, phấn đấu đến năm 2015 sẽ sẽ hoàn thành 3 lò cao với công suất 10,5 triệu tấn thép/năm, có 13 cầu cảng đi vào hoạt động và năm 2017 sẽ hoàn chỉnh 32 cầu cảng, đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xuất khẩu thành phẩm của nhà máy gang thép này.
Nếu đề xuất này được Chính phủ và UBND tỉnh Hà Tĩnh đồng ý, Formosa Hà Tĩnh sẽ tiếp tục là dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Đồng thời, liên hợp gang thép này sẽ có công suất 22,5 triệu tấn so với 7,5 triệu tấn hiện nay, với 6 lò cao thay vì 2 lò cao, tức là quy mô sẽ tăng gấp 3 lần.
Hồi cuối năm 2012, Formosa cũng đã một lần quyết định tăng vốn đầu tư từ 7,9 tỷ USD lên 9,9 tỷ USD và đã được tỉnh Hà Tĩnh cấp chứng nhận đầu tư điều chỉnh.
Hiện tại, Formosa đã khởi công xây dựng lò cao, hạng mục công trình trọng yếu của nhà máy luyện gang thép Formosa Hà Tĩnh. Đây là một dự án thành phần quan trọng trong khu liên hợp có diện tích trên 3.300 ha, trong đó diện tích đất liền là hơn 2.000 ha và diện tích mặt nước trên 1.200ha.
Dự án bao gồm các hạng mục chính là nhà máy luyện giang thép, hệ thống cảng biển nước sâu có năng lực cập tàu 300.000 tấn và nhà máy nhiệt điện công suất 2.100 MW, trong đó quy mô nhà máy thép giai đoạn 1 đạt trên 7 triệu tấn phôi thép/năm.
Formosa đã cam kết sẽ huy động tối đa nguồn lực, phấn đấu đến năm 2015 sẽ sẽ hoàn thành 3 lò cao với công suất 10,5 triệu tấn thép/năm, có 13 cầu cảng đi vào hoạt động và năm 2017 sẽ hoàn chỉnh 32 cầu cảng, đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xuất khẩu thành phẩm của nhà máy gang thép này.
Tài sản sếp HSG tăng 170 tỷ đồng sau "thương vụ" Nick Vujicic
Kết thúc phiên giao dịch buổi sáng 24/5, giá cổ phiếu của Công
ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (HSG-HOSE) tăng mạnh lên 49.000 đồng/cổ
phiếu, đưa vốn hóa thị trường của công ty lên 4.938 tỷ đồng.
Điều thú vị là trong 4 phiên giao dịch gần đây, trùng hợp với sự kiện chàng trai khuyết tật Nick Vujicic đến Việt Nam với sự tài trợ của HSG, giá cổ phiếu HSG liên tục tăng từ 45.000 đồng lên 49.000 đồng/cổ phiếu, tính đến hết phiên buổi sáng 24/5. Tương ứng với giá cổ phiếu tăng, vốn hóa thị trường của HSG đã tăng thêm hơn 400 tỷ đồng.
Với tỷ lệ nắm giữ gần 43 triệu cổ phiếu HSG, tương đương gần 43% cổ phần, tài sản tính theo vốn hóa thị trường của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HSG, tăng thêm hơn 170 tỷ đồng, sau 4 ngày.
Tương tự, cổ đông tổ chức Red River Holding, nắm gần 16% cổ phần HSG, cũng ghi nhận mức vốn hóa tài sản tăng thêm 64 tỷ đồng, tương đương hơn 3 triệu USD.
Theo lãnh đạo HSG, tập đoàn này đã chi tổng cộng 35 tỷ đồng cho sự kiện Nick Vujicic đến Việt Nam.
Được biết, trong 6 tháng niên độ tài chính 2012-2013, sản lượng tiêu thụ của HSG đạt 276.068 tấn, hoàn thành 51% kế hoạch năm; doanh thu thuần đạt 5.296 tỷ đồng, hoàn thành 48,1% kế hoạch năm; lợi nhuận sau thuế đạt 350,2 tỷ đồng, hoàn thành 87,6% kế hoạch năm.
Điều thú vị là trong 4 phiên giao dịch gần đây, trùng hợp với sự kiện chàng trai khuyết tật Nick Vujicic đến Việt Nam với sự tài trợ của HSG, giá cổ phiếu HSG liên tục tăng từ 45.000 đồng lên 49.000 đồng/cổ phiếu, tính đến hết phiên buổi sáng 24/5. Tương ứng với giá cổ phiếu tăng, vốn hóa thị trường của HSG đã tăng thêm hơn 400 tỷ đồng.
Với tỷ lệ nắm giữ gần 43 triệu cổ phiếu HSG, tương đương gần 43% cổ phần, tài sản tính theo vốn hóa thị trường của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HSG, tăng thêm hơn 170 tỷ đồng, sau 4 ngày.
Tương tự, cổ đông tổ chức Red River Holding, nắm gần 16% cổ phần HSG, cũng ghi nhận mức vốn hóa tài sản tăng thêm 64 tỷ đồng, tương đương hơn 3 triệu USD.
Theo lãnh đạo HSG, tập đoàn này đã chi tổng cộng 35 tỷ đồng cho sự kiện Nick Vujicic đến Việt Nam.
Được biết, trong 6 tháng niên độ tài chính 2012-2013, sản lượng tiêu thụ của HSG đạt 276.068 tấn, hoàn thành 51% kế hoạch năm; doanh thu thuần đạt 5.296 tỷ đồng, hoàn thành 48,1% kế hoạch năm; lợi nhuận sau thuế đạt 350,2 tỷ đồng, hoàn thành 87,6% kế hoạch năm.
Nghị trường nóng với chi phí tiếp thị, quảng cáo
Một
trong những nội dung gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình sửa đổi
bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp là vấn đề hạn mức chi phí tiếp
thị, quảng cáo.
Trong các buổi thảo luận tổ tại Quốc hội chiều 21/5, vấn đề này lại được làm nóng bởi các ý kiến đến từ các đại biểu, đặc biệt là các đại biểu doanh nhân.
Theo tờ trình của Chính phủ về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, dự thảo luật có quy định nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế.
Trong thời gian qua, các hiệp hội doanh nghiệp liên tục đưa ra các ý kiến phản đối, yêu cầu bỏ hẳn quy định khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Bộ Tài chính khó tiếp thu đề nghị này mà vẫn bảo lưu quan điểm “nới lỏng” hơn là “bỏ hẳn”.
Các đại biểu Quốc hội dường như cũng cảm nhận được cái khó của Bộ Tài chính nên trong các buổi thảo luận tại tổ, các ý kiến góp ý đã đưa ra giải pháp dung hòa là đề nghị áp dụng tỷ lệ 15% trên doanh thu thay vì 15% trên chi phí hợp lý. Đây chính là cách thức đang được áp dụng tại Trung Quốc và theo các đại biểu, quy định như vậy sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu Trần Du Lịch, cần thiết phải có khống chế mức chi quảng cáo tiếp thị mặc dù hiện nay mức 15% chỉ có một số nước áp dụng, tuy nhiên nếu tính 15% trên doanh thu thì “phù hợp hơn”.
Đại biểu Phạm Huy Hùng, (Hà Nội) cho rằng nên cân nhắc lại mức khống chế 15% trên tổng chi phí được trừ. “Chúng tôi đề nghị nên bỏ quy định này, nếu vẫn quy định thì nên căn cứ vào tổng doanh thu để phù hợp với thông lệ quốc tế", vị Chủ tịch của Ngân hàng Vietinbank, nơi có ngân sách khá lớn cho hoạt động tiếp thị, quảng cáo, nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cũng cho rằng không nên khống chế chi phí quảng cáo khuyến mãi ở mức 15% như dự thảo. “Nên trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, không doanh nghiệp chi mà không có tính toán, cũng phải cân đối chi thế nào để có lợi nhất, chi phí quảng cáo khuyến mãi là chi chi phí của doanh nghiệp. Đây cũng là tác nhân chi đầu vào cho ngành công nghiệp quảng cáo”, bà Hường nói.
Quan điểm này cũng nhận được sự chia sẻ từ đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Co.op, nơi có hệ thống siêu thị rất lớn và có mối quan hệ kinh doanh với hàng ngàn doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ Tư, ngày 22/5/2013, Quốc hội làm việc ở tổ, thảo luận về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012; việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2013 và quyết toán ngân sách nhà nước năm 2011.
Trong các buổi thảo luận tổ tại Quốc hội chiều 21/5, vấn đề này lại được làm nóng bởi các ý kiến đến từ các đại biểu, đặc biệt là các đại biểu doanh nhân.
Theo tờ trình của Chính phủ về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, dự thảo luật có quy định nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế.
Trong thời gian qua, các hiệp hội doanh nghiệp liên tục đưa ra các ý kiến phản đối, yêu cầu bỏ hẳn quy định khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Bộ Tài chính khó tiếp thu đề nghị này mà vẫn bảo lưu quan điểm “nới lỏng” hơn là “bỏ hẳn”.
Các đại biểu Quốc hội dường như cũng cảm nhận được cái khó của Bộ Tài chính nên trong các buổi thảo luận tại tổ, các ý kiến góp ý đã đưa ra giải pháp dung hòa là đề nghị áp dụng tỷ lệ 15% trên doanh thu thay vì 15% trên chi phí hợp lý. Đây chính là cách thức đang được áp dụng tại Trung Quốc và theo các đại biểu, quy định như vậy sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu Trần Du Lịch, cần thiết phải có khống chế mức chi quảng cáo tiếp thị mặc dù hiện nay mức 15% chỉ có một số nước áp dụng, tuy nhiên nếu tính 15% trên doanh thu thì “phù hợp hơn”.
Đại biểu Phạm Huy Hùng, (Hà Nội) cho rằng nên cân nhắc lại mức khống chế 15% trên tổng chi phí được trừ. “Chúng tôi đề nghị nên bỏ quy định này, nếu vẫn quy định thì nên căn cứ vào tổng doanh thu để phù hợp với thông lệ quốc tế", vị Chủ tịch của Ngân hàng Vietinbank, nơi có ngân sách khá lớn cho hoạt động tiếp thị, quảng cáo, nói.
Một đại biểu doanh nhân khác, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) cũng cho rằng không nên khống chế chi phí quảng cáo khuyến mãi ở mức 15% như dự thảo. “Nên trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, không doanh nghiệp chi mà không có tính toán, cũng phải cân đối chi thế nào để có lợi nhất, chi phí quảng cáo khuyến mãi là chi chi phí của doanh nghiệp. Đây cũng là tác nhân chi đầu vào cho ngành công nghiệp quảng cáo”, bà Hường nói.
Quan điểm này cũng nhận được sự chia sẻ từ đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Co.op, nơi có hệ thống siêu thị rất lớn và có mối quan hệ kinh doanh với hàng ngàn doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ Tư, ngày 22/5/2013, Quốc hội làm việc ở tổ, thảo luận về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012; việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2013 và quyết toán ngân sách nhà nước năm 2011.
Gây thua lỗ, lãnh đạo EVN sẽ mất chức
Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng Thành viên EVN thiếu
trách nhiệm, không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
mình khiến tập đoàn bị lỗ hoặc mất vốn thì bị miễn nhiệm và phải bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đó là nội
dung đáng chú ý trong dự thảo nghị định về điều lệ hoạt động của Tập
đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa được Bộ Công Thương trình Chính phủ.
EVN lỗ, lãnh đạo phải bồi thường
Theo dự thảo, Chủ tịch Hội đồng Thành viên EVN sẽ là người thay mặt Hội đồng Thành viên EVN ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do chủ sở hữu nhà nước đầu tư cho EVN; quản lý EVN theo nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN không được kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc EVN.
Đáng chú ý, dự thảo quy định, khi vi phạm một trong các trường hợp như: để EVN lỗ, mất vốn nhà nước, quyết định dự án đầu tư không hiệu quả, để xảy ra các sai phạm về quản lý vốn, tài sản, không đảm bảo tiền lương và các chết độ khác cho người lao động nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không chứng minh được lý do khách quan, thì Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN, các thành viên Hội đồng thành viên EVN và Tổng giám đốc EVN không được thưởng, không được nâng lương và bị xử lý kỷ luật tùy theo mức độ vi phạm.
Trường hợp để EVN lâm vào tình lỗ hai năm liên tiếp, không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong hai năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ, lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được…thì tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc EVN bị kỷ luật, miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, đồng thời phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đối với vị trí Tổng giám đốc EVN, cá nhân này có trách nhiệm điều hành hoạt động hàng ngày của EVN theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Thành viên tập đoàn, phù hợp với điều lệ tổ chức và hoạt động của EVN; chịu trách nhiệm trước Hội đồng Thành viên EVN và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Bộ Công Thương sẽ quyết định việc miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với Tổng giám đốc EVN nếu để EVN lỗ hai năm liên tiếp hoặc không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu do chủ sở hữu giao trong hai năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ, lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được, trừ các trường hợp lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt…
Bên cạnh đó, nếu để EVN lâm vào tình trạng phá sản nhưng không nộp đơn yêu cầu phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; hoặc không hoàn thành các nhiệm vụ hoặc chỉ tiêu do Hội đồng thành viên EVN giao…thì cũng bị miễn nhiệm.
Mới đây, Chính phủ và Bộ Công Thương đã có quyết định miễn nhiệm và kỷ luật đối với 2 chức vụ Chủ tịch EVN Đào Văn Hưng và Tổng giám đốc Phạm Lê Thanh vì đã có vi phạm trong việc để Công ty Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) kinh doanh thua lỗ gây hậu quả nghiêm trọng.
Tuy nhiên, đây là trường hợp để thua lỗ khi đầu tư ngoài ngành chính của EVN. Còn trên thực tế, EVN vẫn để xảy ra thua lỗ do sản xuất, kinh doanh điện trong nhiều năm liền với với số nợ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, song lãnh đạo EVN vẫn không bị nhắc nhở, kỷ luật.
Còn theo quy định của dự thảo, bất luận trong trường hợp nào, nếu không chứng minh được lý do khách quan mà để EVN thua lỗ trong 2 năm liền thì Chủ tịch và Tổng giám đốc EVN đều phải nhận hình thức kỷ luật.
Lãnh đạo chỉ được ứng 70% lương
Ngoài quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ đối với lãnh đạo EVN, dự thảo cũng nêu rõ thù lao, tiền lương và các lợi ích khác của Chủ tịch Hội đồng Thành viên, thành viên Hội đồng, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và Kế toán trưởng EVN, trong đó mức tiền lương và thưởng tương ứng với kết quả, hiệu quả kinh doanh của EVN và kết quả hoạt động quản lý, điều hành.
Đáng chú ý, chế độ chi trả tiền lương, tiền thưởng cho các chức danh nói trên sẽ được thực hiện theo phương thức tạm ứng 70% của số tiền lương tạm tính cho tháng đó; số 30% còn lại chỉ được quyết toán và chi trả vào cuối năm. 30% tiền lương và tiền thưởng còn lại được chi trả cho các đối tượng tương ứng nêu trên căn cứ vào quy chế quản lý tài chính của EVN và quy chế giám sát, đánh giá đối với các thành viên Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN.
Hàng năm, các thành viên Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN được tạm ứng 70% tổng số tiền thưởng của năm; số 30% còn lại được quyết toán và chi trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ.
Trường hợp kết quả xếp loại doanh nghiệp và kết quả đánh giá về quản lý, điều hành của Hội đồng Thành viên và từng thành viên Hội đồng, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN không đáp ứng yêu cầu thì những cá nhân này sẽ không được quyết toán 30% số tiền lương năm (đối với các đối tượng hưởng lương) và không được hưởng 30% số tiền thưởng còn lại của nhiệm kỳ.
EVN lỗ, lãnh đạo phải bồi thường
Theo dự thảo, Chủ tịch Hội đồng Thành viên EVN sẽ là người thay mặt Hội đồng Thành viên EVN ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do chủ sở hữu nhà nước đầu tư cho EVN; quản lý EVN theo nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN không được kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc EVN.
Đáng chú ý, dự thảo quy định, khi vi phạm một trong các trường hợp như: để EVN lỗ, mất vốn nhà nước, quyết định dự án đầu tư không hiệu quả, để xảy ra các sai phạm về quản lý vốn, tài sản, không đảm bảo tiền lương và các chết độ khác cho người lao động nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không chứng minh được lý do khách quan, thì Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN, các thành viên Hội đồng thành viên EVN và Tổng giám đốc EVN không được thưởng, không được nâng lương và bị xử lý kỷ luật tùy theo mức độ vi phạm.
Trường hợp để EVN lâm vào tình lỗ hai năm liên tiếp, không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong hai năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ, lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được…thì tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc EVN bị kỷ luật, miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, đồng thời phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đối với vị trí Tổng giám đốc EVN, cá nhân này có trách nhiệm điều hành hoạt động hàng ngày của EVN theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Thành viên tập đoàn, phù hợp với điều lệ tổ chức và hoạt động của EVN; chịu trách nhiệm trước Hội đồng Thành viên EVN và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Bộ Công Thương sẽ quyết định việc miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với Tổng giám đốc EVN nếu để EVN lỗ hai năm liên tiếp hoặc không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu do chủ sở hữu giao trong hai năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ, lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được, trừ các trường hợp lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt…
Bên cạnh đó, nếu để EVN lâm vào tình trạng phá sản nhưng không nộp đơn yêu cầu phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; hoặc không hoàn thành các nhiệm vụ hoặc chỉ tiêu do Hội đồng thành viên EVN giao…thì cũng bị miễn nhiệm.
Mới đây, Chính phủ và Bộ Công Thương đã có quyết định miễn nhiệm và kỷ luật đối với 2 chức vụ Chủ tịch EVN Đào Văn Hưng và Tổng giám đốc Phạm Lê Thanh vì đã có vi phạm trong việc để Công ty Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) kinh doanh thua lỗ gây hậu quả nghiêm trọng.
Tuy nhiên, đây là trường hợp để thua lỗ khi đầu tư ngoài ngành chính của EVN. Còn trên thực tế, EVN vẫn để xảy ra thua lỗ do sản xuất, kinh doanh điện trong nhiều năm liền với với số nợ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, song lãnh đạo EVN vẫn không bị nhắc nhở, kỷ luật.
Còn theo quy định của dự thảo, bất luận trong trường hợp nào, nếu không chứng minh được lý do khách quan mà để EVN thua lỗ trong 2 năm liền thì Chủ tịch và Tổng giám đốc EVN đều phải nhận hình thức kỷ luật.
Lãnh đạo chỉ được ứng 70% lương
Ngoài quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ đối với lãnh đạo EVN, dự thảo cũng nêu rõ thù lao, tiền lương và các lợi ích khác của Chủ tịch Hội đồng Thành viên, thành viên Hội đồng, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và Kế toán trưởng EVN, trong đó mức tiền lương và thưởng tương ứng với kết quả, hiệu quả kinh doanh của EVN và kết quả hoạt động quản lý, điều hành.
Đáng chú ý, chế độ chi trả tiền lương, tiền thưởng cho các chức danh nói trên sẽ được thực hiện theo phương thức tạm ứng 70% của số tiền lương tạm tính cho tháng đó; số 30% còn lại chỉ được quyết toán và chi trả vào cuối năm. 30% tiền lương và tiền thưởng còn lại được chi trả cho các đối tượng tương ứng nêu trên căn cứ vào quy chế quản lý tài chính của EVN và quy chế giám sát, đánh giá đối với các thành viên Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN.
Hàng năm, các thành viên Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN được tạm ứng 70% tổng số tiền thưởng của năm; số 30% còn lại được quyết toán và chi trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ.
Trường hợp kết quả xếp loại doanh nghiệp và kết quả đánh giá về quản lý, điều hành của Hội đồng Thành viên và từng thành viên Hội đồng, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng EVN không đáp ứng yêu cầu thì những cá nhân này sẽ không được quyết toán 30% số tiền lương năm (đối với các đối tượng hưởng lương) và không được hưởng 30% số tiền thưởng còn lại của nhiệm kỳ.
PVX thay Chủ tịch Hội đồng Quản trị
Tổng công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (mã PVX-HNX) thông báo thay đổi nhân sự cấp cao.
Theo
đó, ông Bùi Ngọc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần
Chứng khoán dầu khí (PSI) sẽ thay ông Trịnh Xuân Thanh giữ chức Chủ tịch
Hội đồng Quản trị PVX.
Ông Thắng sinh năm 1969 và có trình độ cử nhân kinh tế. Từ năm 2009 đến nay, ông Thắng đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị PSI.
Ngoài ra, PVX cũng thông qua việc bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Thu Hường và ông Bùi Ngọc Hưng làm thành viên Hội đồng Quản trị; ông Nguyễn Văn Lai được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, ông Phạm Tiến Đạt được bổ nhiệm vào Ban kiểm soát.
Được biết, HNX đưa PVX vào diện bị kiểm soát từ ngày 4/4/2013 do lợi nhuận sau thuế của cổ đông của công ty mẹ trên báo cáo tài chính hợp nhất có kiểm toán năm 2012 tại 2 năm gần nhất là số âm (năm 2011 sau khi điều chỉnh hồi tố -19,123 tỷ đồng và năm 2012 là -1,338 tỷ đồng).
HNX sẽ có thông báo về việc đưa cổ phiếu này ra khỏi diện bị kiểm soát sau khi công ty khắc phục được tình trạng nêu trên theo quy chế niêm yết chứng khoán của Sở.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý 1/2013, doanh thu thuần của PVX đạt 1.053 tỷ đồng, lỗ sau thuế 74 tỷ đồng và lỗ sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 31,87 tỷ đồng
Ông Thắng sinh năm 1969 và có trình độ cử nhân kinh tế. Từ năm 2009 đến nay, ông Thắng đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị PSI.
Ngoài ra, PVX cũng thông qua việc bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Thu Hường và ông Bùi Ngọc Hưng làm thành viên Hội đồng Quản trị; ông Nguyễn Văn Lai được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, ông Phạm Tiến Đạt được bổ nhiệm vào Ban kiểm soát.
Được biết, HNX đưa PVX vào diện bị kiểm soát từ ngày 4/4/2013 do lợi nhuận sau thuế của cổ đông của công ty mẹ trên báo cáo tài chính hợp nhất có kiểm toán năm 2012 tại 2 năm gần nhất là số âm (năm 2011 sau khi điều chỉnh hồi tố -19,123 tỷ đồng và năm 2012 là -1,338 tỷ đồng).
HNX sẽ có thông báo về việc đưa cổ phiếu này ra khỏi diện bị kiểm soát sau khi công ty khắc phục được tình trạng nêu trên theo quy chế niêm yết chứng khoán của Sở.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý 1/2013, doanh thu thuần của PVX đạt 1.053 tỷ đồng, lỗ sau thuế 74 tỷ đồng và lỗ sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 31,87 tỷ đồng
Lỗ và nợ của tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện thế nào?
Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính năm 2011 của 271 doanh
nghiệp thuộc 27 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước vừa được hoàn
thành vào tháng 5/2013 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy nhiều con số đáng
lo ngại từ khu vực này.
Cho biết có 23/27 tập đoàn,
tổng công ty kinh doanh vẫn có lãi, tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng một số
đơn vị tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt dưới 5%.
4 doanh nghiệp còn lại và một số công ty con thuộc các tập đoàn, tổng công ty này thua lỗ. Kết quả kinh doanh của không ít đơn vị giảm mạnh.
Dẫn đầu về lỗ vẫn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với 1.671 tỷ đồng. Các tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco8) lỗ 137,9 tỷ đồng; Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) lỗ 19,83 tỷ đồng; Xăng dầu Quân đội (Mipeco) lỗ 17,1 tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty mẹ - Tổng công ty Thành An lỗ 1,68 tỷ đồng. 3/21 công ty con thuộc Vinaconex, 3/7 công ty con thuộc Pisico được kiểm toán thua lỗ, tuy nhiên không có con số cụ thể tại báo cáo.
Lợi nhuận sau thuế của Vinaconex giảm 321 tỷ đồng, PVC 589 tỷ đồng, Vinafood2 113 tỷ đồng và Habeco lợi nhuận trước thuế bằng 0,86% năm trước.
Các doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu dưới 5% được điểm danh gồm các tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 4,51%; Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 4,27%; Cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVC) 3,53%; Đầu tư và Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) 2,57%; Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Vinacco) 2,17%...
Kết quả kiểm toán tại 27 “ông lớn” cũng đã điều chỉnh giảm tổng tài sản - nguồn vốn 1.477 tỷ đồng, tổng doanh thu - thu nhập thuần 1.015 tỷ đồng, tổng chi phí 2.347 tỷ đồng và tăng lợi nhuận trước thuế 1.305 tỷ đồng.
Vẫn theo Kiểm toán Nhà nước, tổng nợ phải thu của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 54.133 tỷ đồng, nợ phải thu trên tổng tài sản là 20,56% và trên vốn chủ sở hữu là 82,97%.
Đáng lưu ý là, một số đơn vị quản lý nợ chưa chặt chẽ để khách hàng chiếm dụng vốn lớn, nợ xấu cao; ứng trước tiền mua hàng với số lượng lớn nhưng không áp dụng các hình thức bảo lãnh, bảo đảm cho tiền ứng trước dẫn đến nguy cơ mất vốn lớn…
Như, tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản của Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất công nghiệp 40%, Công ty TNHH Một thành viên Xây lắp điện 4 thuộc Tổng công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) 59,8%, Công ty Cổ phần Xây lắp Công trình Tây Nguyên 31,2%, Công ty Cổ phần Cẩm Hà 31%...
Hay, nợ phải thu quá hạn trên 6 tháng của Vinafor là 64,16 tỷ đồng, trên 1 năm của công ty mẹ - PVC 36 tỷ đồng; Cienco8: Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Việt Lào nợ quá hạn 44,08 tỷ đồng, chiếm 43,8% nợ phải thu, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng công trình giao thông 874 là 25,81 tỷ đồng, chiếm 23,7%...
Rồi ở Vinafood 1, một số công ty ứng trước 90% giá trị hợp đồng nhưng khách hàng chưa hoặc không giao hàng. Vinafood 2 ứng trước 80%-90% giá trị hợp đồng nhưng chưa ban hành quy chế về ứng vốn cho người bán hàng.
Báo cáo cũng cho biết, tổng các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ phần hóa doanh nghiệp.
Hiệu quả đầu tư của một số đơn vị thấp, nhiều công ty liên doanh, liên kết kinh doanh thua lỗ, mất vốn, đặc biệt là các khoản đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán đều thua lỗ, báo cáo nêu rõ.
Cụ thể, PVC đầu tư vào công ty liên kết PVC- SG lỗ 85,8 tỷ đồng; PVC-Land lỗ 66,4 tỷ đồng. Công ty Sopewaco lỗ 48,5 tỷ đồng; Công ty CP Xi măng Hạ Long lỗ lũy kế đến 31/12/2011 là 1.090 tỷ đồng, vượt vốn điều lệ 982 tỷ đồng. Công ty mẹ - Habeco đầu tư vào các doanh nghiệp khác năm 2011 lỗ 195,42 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn các khoản đầu tư tài chính dài hạn tổn thất phải trích lập dự phòng là 162,3 tỷ đồng, bằng 13,64% giá trị đầu tư. Vinafood 2 đầu tư lĩnh vực bất động sản, vận tải biển không hiệu quả còn Vinafood 1 thì công ty mẹ tỷ lệ cổ tức được chia trên vốn góp tại các công ty con chỉ đạt 5,31%.
Với chứng khoán, công ty mẹ - Vinafood 1 đầu tư 118,53 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 42,23 tỷ đồng; Công ty mẹ - Vinachem góp vốn vào Công ty Cổ phần Chứng khoán VICS 22 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 18,5 tỷ đồng và mua cổ phần của Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh 16 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 5,6 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Bến Thành và Công ty Văn hóa tổng hợp Bến Thành lỗ kinh doanh chứng khoán ngắn hạn. Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn thuộc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn phải trích lập dự phòng 8,057 tỷ đồng cho các đầu tư chứng khoán bị tổn thất, bằng 52,45% giá trị đầu tư.
Rồi Vinafood 2 đầu tư chứng khoán của Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam 59,5 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 47,7 tỷ đồng và mua cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) 52,57 tỷ đồng, giá niêm yết còn 16,64 tỷ đồng...
Kết quả kiểm toán cũng cho biết, tổng nguồn vốn của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 263.288 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 65.241 tỷ đồng (chiếm 24,7% tổng nguồn vốn), nợ phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Các con số được dẫn để minh chứng về nợ phải trả/tổng nguồn vốn của VEC là 97,9%; Vinaincon là 91%, Cienco4 89,3%; Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 85,6%; Vinaconex là 81,7%, Vinafood 1 là 68%; PVC là 67%; Vinafood 2 là 65%...
4 doanh nghiệp còn lại và một số công ty con thuộc các tập đoàn, tổng công ty này thua lỗ. Kết quả kinh doanh của không ít đơn vị giảm mạnh.
Dẫn đầu về lỗ vẫn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với 1.671 tỷ đồng. Các tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco8) lỗ 137,9 tỷ đồng; Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) lỗ 19,83 tỷ đồng; Xăng dầu Quân đội (Mipeco) lỗ 17,1 tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty mẹ - Tổng công ty Thành An lỗ 1,68 tỷ đồng. 3/21 công ty con thuộc Vinaconex, 3/7 công ty con thuộc Pisico được kiểm toán thua lỗ, tuy nhiên không có con số cụ thể tại báo cáo.
Lợi nhuận sau thuế của Vinaconex giảm 321 tỷ đồng, PVC 589 tỷ đồng, Vinafood2 113 tỷ đồng và Habeco lợi nhuận trước thuế bằng 0,86% năm trước.
Tổng
các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm
toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu
tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ
phần hóa doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu dưới 5% được điểm danh gồm các tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 4,51%; Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 4,27%; Cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVC) 3,53%; Đầu tư và Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) 2,57%; Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Vinacco) 2,17%...
Kết quả kiểm toán tại 27 “ông lớn” cũng đã điều chỉnh giảm tổng tài sản - nguồn vốn 1.477 tỷ đồng, tổng doanh thu - thu nhập thuần 1.015 tỷ đồng, tổng chi phí 2.347 tỷ đồng và tăng lợi nhuận trước thuế 1.305 tỷ đồng.
Vẫn theo Kiểm toán Nhà nước, tổng nợ phải thu của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 54.133 tỷ đồng, nợ phải thu trên tổng tài sản là 20,56% và trên vốn chủ sở hữu là 82,97%.
Đáng lưu ý là, một số đơn vị quản lý nợ chưa chặt chẽ để khách hàng chiếm dụng vốn lớn, nợ xấu cao; ứng trước tiền mua hàng với số lượng lớn nhưng không áp dụng các hình thức bảo lãnh, bảo đảm cho tiền ứng trước dẫn đến nguy cơ mất vốn lớn…
Như, tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản của Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất công nghiệp 40%, Công ty TNHH Một thành viên Xây lắp điện 4 thuộc Tổng công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) 59,8%, Công ty Cổ phần Xây lắp Công trình Tây Nguyên 31,2%, Công ty Cổ phần Cẩm Hà 31%...
Hay, nợ phải thu quá hạn trên 6 tháng của Vinafor là 64,16 tỷ đồng, trên 1 năm của công ty mẹ - PVC 36 tỷ đồng; Cienco8: Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Việt Lào nợ quá hạn 44,08 tỷ đồng, chiếm 43,8% nợ phải thu, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng công trình giao thông 874 là 25,81 tỷ đồng, chiếm 23,7%...
Rồi ở Vinafood 1, một số công ty ứng trước 90% giá trị hợp đồng nhưng khách hàng chưa hoặc không giao hàng. Vinafood 2 ứng trước 80%-90% giá trị hợp đồng nhưng chưa ban hành quy chế về ứng vốn cho người bán hàng.
Báo cáo cũng cho biết, tổng các khoản đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 25.750 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu tập trung vào các công ty con và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ phần hóa doanh nghiệp.
Hiệu quả đầu tư của một số đơn vị thấp, nhiều công ty liên doanh, liên kết kinh doanh thua lỗ, mất vốn, đặc biệt là các khoản đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán đều thua lỗ, báo cáo nêu rõ.
Nợ
phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ
yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Cụ thể, PVC đầu tư vào công ty liên kết PVC- SG lỗ 85,8 tỷ đồng; PVC-Land lỗ 66,4 tỷ đồng. Công ty Sopewaco lỗ 48,5 tỷ đồng; Công ty CP Xi măng Hạ Long lỗ lũy kế đến 31/12/2011 là 1.090 tỷ đồng, vượt vốn điều lệ 982 tỷ đồng. Công ty mẹ - Habeco đầu tư vào các doanh nghiệp khác năm 2011 lỗ 195,42 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn các khoản đầu tư tài chính dài hạn tổn thất phải trích lập dự phòng là 162,3 tỷ đồng, bằng 13,64% giá trị đầu tư. Vinafood 2 đầu tư lĩnh vực bất động sản, vận tải biển không hiệu quả còn Vinafood 1 thì công ty mẹ tỷ lệ cổ tức được chia trên vốn góp tại các công ty con chỉ đạt 5,31%.
Với chứng khoán, công ty mẹ - Vinafood 1 đầu tư 118,53 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 42,23 tỷ đồng; Công ty mẹ - Vinachem góp vốn vào Công ty Cổ phần Chứng khoán VICS 22 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 18,5 tỷ đồng và mua cổ phần của Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh 16 tỷ đồng, phải trích lập dự phòng 5,6 tỷ đồng. Công ty mẹ - Tổng công ty Bến Thành và Công ty Văn hóa tổng hợp Bến Thành lỗ kinh doanh chứng khoán ngắn hạn. Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn thuộc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn phải trích lập dự phòng 8,057 tỷ đồng cho các đầu tư chứng khoán bị tổn thất, bằng 52,45% giá trị đầu tư.
Rồi Vinafood 2 đầu tư chứng khoán của Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam 59,5 tỷ đồng phải trích lập dự phòng 47,7 tỷ đồng và mua cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) 52,57 tỷ đồng, giá niêm yết còn 16,64 tỷ đồng...
Kết quả kiểm toán cũng cho biết, tổng nguồn vốn của các tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán đến 31/12/2011 là 263.288 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 65.241 tỷ đồng (chiếm 24,7% tổng nguồn vốn), nợ phải trả chiếm 69,94% tổng nguồn vốn cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng, cơ quan kiểm toán nhận xét.
Các con số được dẫn để minh chứng về nợ phải trả/tổng nguồn vốn của VEC là 97,9%; Vinaincon là 91%, Cienco4 89,3%; Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam 85,6%; Vinaconex là 81,7%, Vinafood 1 là 68%; PVC là 67%; Vinafood 2 là 65%...
EVN phải “đoạn tuyệt” với ngân hàng, bất động sản?
Chính phủ vừa công bố dự thảo nghị định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Điểm đáng chú ý, là Chính phủ sẽ thống nhất thành lập Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, trên cơ sở nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 1); các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo; các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 2); các công ty con của doanh nghiệp cấp 2 và các cấp tiếp theo và các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
Theo dự thảo, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Vốn điều lệ của EVN tại thời điểm 31/12/2012 là 143.404 tỷ đồng, với các chức năng chủ yếu của là tiến hành các hoạt động đầu tư, ký kết các hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trực tiếp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra có chức năng đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật…
Dự thảo nghị định cũng quy định rõ, mục tiêu kinh doanh của EVN là “kinh doanh bền vững, hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu nhà nước giao”.
Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ chủ trương quy định rõ một số ngành, nghề kinh doanh chính của EVN, gồm: sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện…
Ngoài ra, EVN cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính: xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện; xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị viễn thông - công nghệ thông tin; sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu cách điện, trang bị bảo hộ lao động; đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN; kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin trong và ngoài nước, quản lý hệ thống thông tin nội bộ…
Dự thảo yêu cầu EVN phải có nghĩa vụ trong việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại EVN và vốn tự huy động. EVN phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của EVN trong phạm vi số tài sản của tập đoàn; tự chủ về tài chính, tự cân đối về các khoản thu chi; kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do chủ sở hữu nhà nước giao.
Như vậy, so với quy định cũ, điểm đáng chú ý trong dự thảo lần này là Chính phủ đã “cấm cửa” hẳn hoạt động đầu tư bất động sản, ngân hàng đối với EVN, sau khi tập đoàn đã không có được thành công trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, so với đề án tái cơ cấu một số tập đoàn kinh tế mới được Thủ tướng phê duyệt, chẳng hạn như Viettel, trong đó vẫn cho phép tập đoàn này được đầu tư lĩnh vực bất động sản, thì nghị định về quy chế hoạt động của EVN đã có phần “siết” chặt hơn. Ngay cả lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin, Chính phủ cũng chỉ cho phép EVN tham gia các mảng cụ thể như nghiên cứu, tư vấn đào tạo.
Điểm đáng chú ý, là Chính phủ sẽ thống nhất thành lập Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, trên cơ sở nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 1); các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo; các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp 2); các công ty con của doanh nghiệp cấp 2 và các cấp tiếp theo và các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
Theo dự thảo, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Vốn điều lệ của EVN tại thời điểm 31/12/2012 là 143.404 tỷ đồng, với các chức năng chủ yếu của là tiến hành các hoạt động đầu tư, ký kết các hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trực tiếp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra có chức năng đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con trên cơ sở tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật…
Dự thảo nghị định cũng quy định rõ, mục tiêu kinh doanh của EVN là “kinh doanh bền vững, hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu nhà nước giao”.
Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ chủ trương quy định rõ một số ngành, nghề kinh doanh chính của EVN, gồm: sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện…
Ngoài ra, EVN cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính: xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện; xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị viễn thông - công nghệ thông tin; sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu cách điện, trang bị bảo hộ lao động; đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN; kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin trong và ngoài nước, quản lý hệ thống thông tin nội bộ…
Dự thảo yêu cầu EVN phải có nghĩa vụ trong việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại EVN và vốn tự huy động. EVN phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của EVN trong phạm vi số tài sản của tập đoàn; tự chủ về tài chính, tự cân đối về các khoản thu chi; kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do chủ sở hữu nhà nước giao.
Như vậy, so với quy định cũ, điểm đáng chú ý trong dự thảo lần này là Chính phủ đã “cấm cửa” hẳn hoạt động đầu tư bất động sản, ngân hàng đối với EVN, sau khi tập đoàn đã không có được thành công trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, so với đề án tái cơ cấu một số tập đoàn kinh tế mới được Thủ tướng phê duyệt, chẳng hạn như Viettel, trong đó vẫn cho phép tập đoàn này được đầu tư lĩnh vực bất động sản, thì nghị định về quy chế hoạt động của EVN đã có phần “siết” chặt hơn. Ngay cả lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin, Chính phủ cũng chỉ cho phép EVN tham gia các mảng cụ thể như nghiên cứu, tư vấn đào tạo.
Viettel sắp phải thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp lớn
Viettel sẽ có vốn điều lệ 100 nghìn tỷ đồng với ngành nghề chính
là kinh doanh viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh truyền hình…
Đó là một trong nội dung chính trong đề án tái cơ cấu Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, Chính phủ thống nhất xây dựng Viettel thành đơn vị kinh tế quốc phòng mạnh, năng động, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và cơ cấu hợp lý. Ngành, nghề kinh doanh chính của Viettel sẽ là: viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh, truyền hình; bưu chính, chuyển phát; nghiên cứu, sản xuất thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông.
Bên cạnh đó, Viettel cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề có liên quan như: thương mại, phân phối, bán lẻ vật tư, thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông; tài chính ngân hàng, bất động sản, đào tạo nguồn nhân lực…
Trong giai đoạn 2013-2015, Viettel sẽ có 11 đơn vị, gồm: Tổng công ty Viễn thông Viettel; Tổng công ty Mạng lưới Viettel; Công ty Bất động sản Viettel; Công ty Truyền hình Viettel... và 63 chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố trong nước hạch toán phụ thuộc công ty mẹ.
Ngoài ra có 5 công ty TNHH một thành viên là đơn vị độc lập do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm: Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M1; Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M3; Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Kinh doanh nhà Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư công nghệ Viettel.
Cùng với đó, công ty mẹ Viettel sẽ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 7 đơn vị , gồm: Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel; Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel; Công ty Cổ phần Công trình Viettel... và nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại 4 đơn vị là Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB); Công ty Cổ phần Phát triển đô thị Vinaconex-Viettel; Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn.
Đề án cũng nêu rõ, Viettel có trách nhiệm thực hiện sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện lực vào công ty mẹ. Đồng thời, thoái toàn bộ vốn của công ty mẹ tại 5 công ty cổ phần: Công nghệ Viettel; Phát triển thương mại Vinaconex; EVN Quốc tế; Công nghiệp cao su Coecco và Công ty Tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Vietel thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành; hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.
Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến thời điểm này, Thủ tướng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 6/9 tập đoàn kinh tế và 8/10 tổng công ty 91.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo sắp xếp được 27 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 16 doanh nghiệp, sáp nhập 5 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp và chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3 doanh nghiệp.
Đó là một trong nội dung chính trong đề án tái cơ cấu Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, Chính phủ thống nhất xây dựng Viettel thành đơn vị kinh tế quốc phòng mạnh, năng động, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và cơ cấu hợp lý. Ngành, nghề kinh doanh chính của Viettel sẽ là: viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh, truyền hình; bưu chính, chuyển phát; nghiên cứu, sản xuất thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông.
Bên cạnh đó, Viettel cũng được hoạt động trong một số ngành, nghề có liên quan như: thương mại, phân phối, bán lẻ vật tư, thiết bị, sản phẩm viễn thông, công nghệ thông tin, truyền thông; tài chính ngân hàng, bất động sản, đào tạo nguồn nhân lực…
Trong giai đoạn 2013-2015, Viettel sẽ có 11 đơn vị, gồm: Tổng công ty Viễn thông Viettel; Tổng công ty Mạng lưới Viettel; Công ty Bất động sản Viettel; Công ty Truyền hình Viettel... và 63 chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố trong nước hạch toán phụ thuộc công ty mẹ.
Ngoài ra có 5 công ty TNHH một thành viên là đơn vị độc lập do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm: Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M1; Công ty TNHH Một thành viên Thông tin M3; Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Kinh doanh nhà Viettel; Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư công nghệ Viettel.
Cùng với đó, công ty mẹ Viettel sẽ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 7 đơn vị , gồm: Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel; Tổng công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel; Công ty Cổ phần Công trình Viettel... và nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ tại 4 đơn vị là Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB); Công ty Cổ phần Phát triển đô thị Vinaconex-Viettel; Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn.
Đề án cũng nêu rõ, Viettel có trách nhiệm thực hiện sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện lực vào công ty mẹ. Đồng thời, thoái toàn bộ vốn của công ty mẹ tại 5 công ty cổ phần: Công nghệ Viettel; Phát triển thương mại Vinaconex; EVN Quốc tế; Công nghiệp cao su Coecco và Công ty Tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Vietel thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành; hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.
Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến thời điểm này, Thủ tướng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 6/9 tập đoàn kinh tế và 8/10 tổng công ty 91.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo sắp xếp được 27 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 16 doanh nghiệp, sáp nhập 5 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp và chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3 doanh nghiệp.
Sẽ có bệnh viện quốc tế 200 triệu USD tại Hải Dương
Ban quản lý các khu công nghiệp Hải Dương cho biết, cơ quan này
đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư của Tập đoàn Triple Eye (Canada) về
việc đầu tư một bệnh viện hiện đại trên địa bàn Hải Dương với quy mô vốn
đầu tư 200 triệu USD.
Bệnh viện này dự kiến được đặt trong Khu công nghiệp Đại An.
Đối với dự án bệnh viện, quá trình khởi động đã được tiến hành hơn một năm nay. Tháng 6/2012, tại thành phố Toronto (Canada), Công ty Cổ phần Đại An và Tập đoàn Triple Eye đã ký bản thảo thuận cam kết hợp tác đầu tư dự án này.
Dự kiến bệnh viện sẽ có tên gọi là Bệnh viện Quốc tế Đại An Việt Nam Canada (Dai An Vietnam Canadian International Hospital) với quy mô 200 giường bệnh.
Tập đoàn Triple Eye sẽ đứng ra thu xếp và đầu tư 100% vốn cho dự án. Ông Marc Kealey, Chủ tịch Tập đoàn Triple Eye được báo giới trích lời nói rằng tập đoàn sẽ cố gắng “hoàn tất các thủ tục cần thiết động thổ bệnh viện vào năm 2013”, năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Canada - Việt Nam.
Ngoài dự án này, một dự án lớn khác cũng đang thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư là dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng cho thuê phục vụ cho các doanh nghiệp Nhật Bản với tổng số vốn đầu tư 65 triệu USD.
Được biết, các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương hiện đã thu hút được 163 dự án đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư đăng ký 3 tỷ USD.
Hầu hết các dự án đầu tư là dự án nước ngoài, thuộc các tập đoàn đầu tư lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Canada, Malaysia, Pháp lĩnh vực sản xuất chủ yếu là điện, điện tử và may mặc.
Bệnh viện này dự kiến được đặt trong Khu công nghiệp Đại An.
Đối với dự án bệnh viện, quá trình khởi động đã được tiến hành hơn một năm nay. Tháng 6/2012, tại thành phố Toronto (Canada), Công ty Cổ phần Đại An và Tập đoàn Triple Eye đã ký bản thảo thuận cam kết hợp tác đầu tư dự án này.
Dự kiến bệnh viện sẽ có tên gọi là Bệnh viện Quốc tế Đại An Việt Nam Canada (Dai An Vietnam Canadian International Hospital) với quy mô 200 giường bệnh.
Tập đoàn Triple Eye sẽ đứng ra thu xếp và đầu tư 100% vốn cho dự án. Ông Marc Kealey, Chủ tịch Tập đoàn Triple Eye được báo giới trích lời nói rằng tập đoàn sẽ cố gắng “hoàn tất các thủ tục cần thiết động thổ bệnh viện vào năm 2013”, năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Canada - Việt Nam.
Ngoài dự án này, một dự án lớn khác cũng đang thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư là dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng cho thuê phục vụ cho các doanh nghiệp Nhật Bản với tổng số vốn đầu tư 65 triệu USD.
Được biết, các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương hiện đã thu hút được 163 dự án đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư đăng ký 3 tỷ USD.
Hầu hết các dự án đầu tư là dự án nước ngoài, thuộc các tập đoàn đầu tư lớn đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Canada, Malaysia, Pháp lĩnh vực sản xuất chủ yếu là điện, điện tử và may mặc.
Kế hoạch hợp nhất PVFC-Western Bank chính thức định hình
Ngày 18/5/2013, đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 của
Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam - PVFC (mã PVF-HOSE) đã
quyết định một nội dung quan trọng, là định hướng phát triển PVFC thành
một ngân hàng thương mại cổ phần.
Với mục đích chủ đạo xuyên suốt năm 2013 của PVFC là tập trung thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình ngân hàng ngân hàng thương mại, tại đại hội lần này, PVFC đã xin ý kiến cổ đông thông qua bản đề án hợp nhất PVFC và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank).
Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng tiếp theo trong lộ trình hợp nhất này. Trước đó, ngày 26/4/2013, 100% cổ đông của WesternBank đã thông qua các tài liệu liên quan việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC gồm: dự thảo hợp đồng hợp nhất và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng hợp nhất.
Như vậy, sau gần một năm với nhiều thông tin đề cập, kế hoạch hợp nhất giữa WesternBank và PVFC đã chính thức định hình cụ thể thông qua các sự kiện quan trọng như: đại hội đồng cổ đông của Western Bank, PVFC và thông qua các bước tiến quan trọng của tiến trình hợp nhất.
Theo dự thảo đề án hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, ứng với 900 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, quy mô tài sản là 100.000 tỷ đồng. Phương thức hợp nhất vốn giữa PVFC và Western Bank được tính căn cứ dựa trên vốn và tài sản của hai bên và sẽ được chuyển giao cho ngân hàng hợp nhất vào ngày hợp nhất.
Cổ đông cũ của hai bên sẽ được hoán đổi trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của ngân hàng hợp nhất và được hưởng mọi quyền, lợi ích và có đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách là cổ đông của ngân hàng hợp nhất.
Dự thảo hợp đồng hợp nhất dự kiến được ký kết giữa PVFC với Western Bank cũng quy định, trong thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày hợp nhất, cả hai bên cam kết thực hiện hoạt động kinh doanh bình thường, duy trì và giữ vững cơ cấu tổ chức hoạt động, các cơ hội kinh doanh, kế thừa các mối quan hệ kinh doanh và đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nhà cung cấp, tư vấn, đại lý, phân phối và các tổ chức, cá nhân khác.
Đồng thời cam kết đảm bảo quyền lợi người lao động, giữ vững và đảm bảo hình ảnh, thương hiệu và uy tín, bảo đảm an toàn tuyệt đối về tài sản mà cả PVFC và Western Bank đang có trước khi ký kết hợp đồng.
Kể từ ngày hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ kế thừa tất cả quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hợp đồng đã ký giữa PVFC, Western Bank và bên thứ ba trước ngày hợp nhất. Tất cả các khoản nợ, trách nhiệm, nghĩa vụ của PVFC và Western Bank có ngay trước ngày hợp nhất sẽ trở thành các khoản nợ, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng hợp nhất. Giao dịch hợp nhất sẽ được thực hiện theo các thủ tục quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.
Nếu việc hợp nhất giữa PVFC và Western Bank thành công, ngân hàng hợp nhất sẽ có khá nhiều lợi thế do tận dụng được điểm mạnh của PVFC và Western Bank.
Cụ thể, ngân hàng hợp nhất có cơ hội thực hiện đầy đủ các giao dịch huy động vốn, dịch vụ thanh toán, phát triển mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động mà PVFC hiện nay bị hạn chế; có khả năng tiếp cận các khách hàng lớn, dự án trọng điểm... là những điều mà Western Bank không có khả năng thực hiện.
Mặt khác, khi đã trở thành ngân hàng thương mại thì sẽ huy động được vốn từ nền kinh tế và duy trì một cách hài hòa chiến lược ngân hàng bán lẻ để cung cấp các dịch vụ thân thiện cho khách hàng, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, vốn là thế mạnh của PVFC.
Bên cạnh đó, đại hội đồng cổ đông cũng thông qua tờ trình về kết quả kinh doanh năm 2012 và kế hoạch năm 2013. Trong năm 2012, doanh thu toàn Tổng công ty đạt 7.386 tỷ đồng, bằng 132% kế hoạch năm; trong đó doanh thu công ty mẹ đạt 7.200 tỷ đồng.
Lợi nhuận toàn Tổng công ty trước trích lập dự phòng đạt 429 tỷ đồng, sau trích lập dự phòng đạt 54 tỷ đồng. Số dư cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân tính hết năm 2012 đạt 43.310 tỷ đồng. Tổng tài sản của PVFC tính đến ngày 31/12/2012 là 87.736 tỷ đồng.
Năm 2013, Tổng công ty trình đại hội đồng cổ đông thông qua kế hoạch doanh thu dự kiến đạt 5.674 tỷ đồng, trong đó, doanh thu công ty mẹ đạt 5.500 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 72,5 tỷ đồng, tăng 35% so với thực hiện năm 2012.
Với mục đích chủ đạo xuyên suốt năm 2013 của PVFC là tập trung thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình ngân hàng ngân hàng thương mại, tại đại hội lần này, PVFC đã xin ý kiến cổ đông thông qua bản đề án hợp nhất PVFC và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank).
Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng tiếp theo trong lộ trình hợp nhất này. Trước đó, ngày 26/4/2013, 100% cổ đông của WesternBank đã thông qua các tài liệu liên quan việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC gồm: dự thảo hợp đồng hợp nhất và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng hợp nhất.
Như vậy, sau gần một năm với nhiều thông tin đề cập, kế hoạch hợp nhất giữa WesternBank và PVFC đã chính thức định hình cụ thể thông qua các sự kiện quan trọng như: đại hội đồng cổ đông của Western Bank, PVFC và thông qua các bước tiến quan trọng của tiến trình hợp nhất.
Theo dự thảo đề án hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, ứng với 900 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, quy mô tài sản là 100.000 tỷ đồng. Phương thức hợp nhất vốn giữa PVFC và Western Bank được tính căn cứ dựa trên vốn và tài sản của hai bên và sẽ được chuyển giao cho ngân hàng hợp nhất vào ngày hợp nhất.
Cổ đông cũ của hai bên sẽ được hoán đổi trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của ngân hàng hợp nhất và được hưởng mọi quyền, lợi ích và có đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách là cổ đông của ngân hàng hợp nhất.
Dự thảo hợp đồng hợp nhất dự kiến được ký kết giữa PVFC với Western Bank cũng quy định, trong thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày hợp nhất, cả hai bên cam kết thực hiện hoạt động kinh doanh bình thường, duy trì và giữ vững cơ cấu tổ chức hoạt động, các cơ hội kinh doanh, kế thừa các mối quan hệ kinh doanh và đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nhà cung cấp, tư vấn, đại lý, phân phối và các tổ chức, cá nhân khác.
Đồng thời cam kết đảm bảo quyền lợi người lao động, giữ vững và đảm bảo hình ảnh, thương hiệu và uy tín, bảo đảm an toàn tuyệt đối về tài sản mà cả PVFC và Western Bank đang có trước khi ký kết hợp đồng.
Kể từ ngày hợp nhất, ngân hàng hợp nhất sẽ kế thừa tất cả quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hợp đồng đã ký giữa PVFC, Western Bank và bên thứ ba trước ngày hợp nhất. Tất cả các khoản nợ, trách nhiệm, nghĩa vụ của PVFC và Western Bank có ngay trước ngày hợp nhất sẽ trở thành các khoản nợ, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng hợp nhất. Giao dịch hợp nhất sẽ được thực hiện theo các thủ tục quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.
Nếu việc hợp nhất giữa PVFC và Western Bank thành công, ngân hàng hợp nhất sẽ có khá nhiều lợi thế do tận dụng được điểm mạnh của PVFC và Western Bank.
Cụ thể, ngân hàng hợp nhất có cơ hội thực hiện đầy đủ các giao dịch huy động vốn, dịch vụ thanh toán, phát triển mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động mà PVFC hiện nay bị hạn chế; có khả năng tiếp cận các khách hàng lớn, dự án trọng điểm... là những điều mà Western Bank không có khả năng thực hiện.
Mặt khác, khi đã trở thành ngân hàng thương mại thì sẽ huy động được vốn từ nền kinh tế và duy trì một cách hài hòa chiến lược ngân hàng bán lẻ để cung cấp các dịch vụ thân thiện cho khách hàng, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, vốn là thế mạnh của PVFC.
Bên cạnh đó, đại hội đồng cổ đông cũng thông qua tờ trình về kết quả kinh doanh năm 2012 và kế hoạch năm 2013. Trong năm 2012, doanh thu toàn Tổng công ty đạt 7.386 tỷ đồng, bằng 132% kế hoạch năm; trong đó doanh thu công ty mẹ đạt 7.200 tỷ đồng.
Lợi nhuận toàn Tổng công ty trước trích lập dự phòng đạt 429 tỷ đồng, sau trích lập dự phòng đạt 54 tỷ đồng. Số dư cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân tính hết năm 2012 đạt 43.310 tỷ đồng. Tổng tài sản của PVFC tính đến ngày 31/12/2012 là 87.736 tỷ đồng.
Năm 2013, Tổng công ty trình đại hội đồng cổ đông thông qua kế hoạch doanh thu dự kiến đạt 5.674 tỷ đồng, trong đó, doanh thu công ty mẹ đạt 5.500 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 72,5 tỷ đồng, tăng 35% so với thực hiện năm 2012.
Nhiều “thử thách” đợi dự án lọc hóa dầu 27 tỷ USD
Dù mong muốn đẩy nhanh tiến độ đàm phán và cấp phép siêu dự án
lọc dầu Nhơn Hội, chủ đầu tư và UBND tỉnh Bình Định chắc chắn còn phải
trải qua những “cửa ải” khó khăn về thủ tục.
Cho đến
nay, Chính phủ vẫn chưa có quyết định cuối cùng trong việc cho phép
triển khai siêu dự án lọc hóa dầu có vốn đầu tư ước tính 27 tỷ USD tại
khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định.
Diễn biến mới nhất là vào ngày 10/5/2013, Phó thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã có văn bản 652/TTg-KTN qua đó thông báo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ đối với dự án này.
Theo văn bản này, Phó thủ tướng giao UBND tỉnh Bình Định hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư theo đúng quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan, lưu ý ý kiến của các Bộ, ngành.
Đồng thời, Bộ Công thương được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và các cơ quan liên quan “xem xét đánh giá hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư này”.
Tuy nhiên, một nội dung rất đáng chú ý trong văn bản này là việc Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương “căn cứ tiến độ triển khai thực tế của các dự án lọc hóa dầu trong quy hoạch phát triển dầu khí Việt Nam, trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các dự án lọc hóa dầu, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển ngành dầu khí Việt Nam, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu”.
Trước đó, trong tờ trình của mình lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã lưu ý 8 vấn đề đã được các bộ, ngành góp ý cho dự án và đề xuất. Sau khi các vấn đề trên được làm rõ, chủ trương đầu tư với dự án nhà máy lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội mới được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
“8 vấn đề” mà Bộ Công Thương lưu ý bao gồm cân đối cung cầu sản phẩm lọc, hóa dầu cảu Việt Nam và phương án tiêu thụ sản phẩm (trong nước/xuất khẩu) của dự án; phương án cung cấp dầu thô dài hạn; việc đầu tư các hạng mục đầu tư công trình biển cần thiết cho dự án (cảng, đê chắn sóng…); chi phí đầu tư hạ tâng cơ sở ngoài hàng rào; tiến độ dự án; cơ cấu vốn đầu tư, cam kết tham gia của các đối tác Việt Nam; tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế; khả năng thu xếp vốn của chủ đầu tư.
Trong khi đó, tại buổi tọa đàm trực tuyến chủ đề "Thu hút đầu tư - Kinh nghiệm từ Bình Định" tổ chức hôm 12/5 vừa qua, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Hồ Quốc Dũng cho rằng dự án lọc hóa dầu này “rất khả thi ở nhiều khía cạnh".
Cũng theo ông Dũng, PTT từng khảo sát nhiều vị trí ở Việt Nam, Malaysia, Myanmar… trước khi chọn khu kinh tế Nhơn Hội của Bình Định để triển khai nhà máy lọc hóa dầu. Ông cũng cho biết, hiện có “các ý kiến hoài nghi tập trung vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, chứ chưa ai khẳng định khu kinh tế Nhơn Hội không bảo đảm điều kiện xây dựng nhà máy lọc hóa dầu”.
Ông Dũng cho biết khu kinh tế Nhơn Hội đã có sẵn hạ tầng, đầy đủ điều kiện để có thể triển khai dự án ngay lập tức, giá thuê đất rẻ nhất hiện nay trong khu vực. Nhơn Hội cũng có cảng nước sâu, kín gió, nằm trên đường giao thương quốc tế, có thể ra Bắc, vào Nam, đi ra với khu vực và trên thế giới, là những điều kiện tốt để triển khai dự án.
Diễn biến mới nhất là vào ngày 10/5/2013, Phó thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã có văn bản 652/TTg-KTN qua đó thông báo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ đối với dự án này.
Theo văn bản này, Phó thủ tướng giao UBND tỉnh Bình Định hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư theo đúng quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan, lưu ý ý kiến của các Bộ, ngành.
Đồng thời, Bộ Công thương được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và các cơ quan liên quan “xem xét đánh giá hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư này”.
Tuy nhiên, một nội dung rất đáng chú ý trong văn bản này là việc Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương “căn cứ tiến độ triển khai thực tế của các dự án lọc hóa dầu trong quy hoạch phát triển dầu khí Việt Nam, trên cơ sở đó trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các dự án lọc hóa dầu, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển ngành dầu khí Việt Nam, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu”.
Trước đó, trong tờ trình của mình lên Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã lưu ý 8 vấn đề đã được các bộ, ngành góp ý cho dự án và đề xuất. Sau khi các vấn đề trên được làm rõ, chủ trương đầu tư với dự án nhà máy lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội mới được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
“8 vấn đề” mà Bộ Công Thương lưu ý bao gồm cân đối cung cầu sản phẩm lọc, hóa dầu cảu Việt Nam và phương án tiêu thụ sản phẩm (trong nước/xuất khẩu) của dự án; phương án cung cấp dầu thô dài hạn; việc đầu tư các hạng mục đầu tư công trình biển cần thiết cho dự án (cảng, đê chắn sóng…); chi phí đầu tư hạ tâng cơ sở ngoài hàng rào; tiến độ dự án; cơ cấu vốn đầu tư, cam kết tham gia của các đối tác Việt Nam; tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế; khả năng thu xếp vốn của chủ đầu tư.
Trong khi đó, tại buổi tọa đàm trực tuyến chủ đề "Thu hút đầu tư - Kinh nghiệm từ Bình Định" tổ chức hôm 12/5 vừa qua, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Hồ Quốc Dũng cho rằng dự án lọc hóa dầu này “rất khả thi ở nhiều khía cạnh".
Cũng theo ông Dũng, PTT từng khảo sát nhiều vị trí ở Việt Nam, Malaysia, Myanmar… trước khi chọn khu kinh tế Nhơn Hội của Bình Định để triển khai nhà máy lọc hóa dầu. Ông cũng cho biết, hiện có “các ý kiến hoài nghi tập trung vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, chứ chưa ai khẳng định khu kinh tế Nhơn Hội không bảo đảm điều kiện xây dựng nhà máy lọc hóa dầu”.
Ông Dũng cho biết khu kinh tế Nhơn Hội đã có sẵn hạ tầng, đầy đủ điều kiện để có thể triển khai dự án ngay lập tức, giá thuê đất rẻ nhất hiện nay trong khu vực. Nhơn Hội cũng có cảng nước sâu, kín gió, nằm trên đường giao thương quốc tế, có thể ra Bắc, vào Nam, đi ra với khu vực và trên thế giới, là những điều kiện tốt để triển khai dự án.
Bill Gates đoạt lại ngôi giàu nhất thế giới
Bill Gates đoạt lại ngôi giàu nhất thế giới
►Giá cổ phiếu Microsoft tăng mạnh từ đầu năm đến nay là nguồn động lực chính đưa tỷ phú Bill Gates trở lại vị trí giàu số 1 hành tinh....
Tỷ phú Bill Gates người Mỹ đã giành lại ngôi vị người giàu nhất
thế giới từ tay tỷ phú Carlos Slim của Mexico. Từ đầu năm tới nay, giá
trị tài sản ròng của nhà sáng lập hãng phần mềm Microsoft tăng thêm hơn
17%, trong khi tài sản của “ông trùm” viễn thông Nam Mỹ giảm trên 5%.
Theo
tin từ Bloomberg, giá cổ phiếu Microsoft tăng mạnh từ đầu năm đến nay
là nguồn động lực chính đưa tỷ phú Bill Gates trở lại vị trí giàu số 1
hành tinh. Từ đầu năm đến nay, giá cổ phiếu này đã tăng 28%. Trong phiên
giao dịch ngày thứ Năm tại Phố Wall, cổ phiếu Microsoft đóng cửa ở mức
cao kỷ lục lần thứ hai trong tuần.
Tính đến hết ngày thứ Sáu
(17/5), giá trị tài sản ròng của Bill Gates đạt mức 73,7 tỷ USD, cao hơn
17,4% so với đầu năm, tương đương mức tăng 10,9 tỷ USD. Trái lại với độ
giàu có gia tăng của Bill Gates, tỷ phú Carlos Slim lại có phần “nghèo”
đi khi giá trị tài sản ròng của ông giảm 3,8 tỷ USD kể từ đầu năm,
tương đương mức giảm 5,1%, còn 71,4 tỷ USD.
Tài sản Bill Gates lẽ
ra còn lớn hơn rất nhiều so với con số hiện tại, bởi ông đến nay đã tài
trợ 28 tỷ USD cho quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation do
vợ chồng ông sáng lập và cùng điều hành với nhà đầu tư huyền thoại
Warren Buffett. Đây được xem là một trong những tổ chức từ thiện có ngân
quỹ lớn nhất thế giới.
Từ năm 2007 tới nay, vị trí giàu nhất thế
giới luôn thuộc về Carlos Slim. Trước đó, ngôi vị này chủ yếu do Bill
Gates nắm giữ. Cổ phiếu của hãng Microsoft chiếm 25% trong giá trị tài
sản ròng của tỷ phú 57 tuổi này.
Năm nay được xem là một năm kém
may mắn đối với tỷ phú 73 tuổi Carlos Slim khi cổ phiếu của hãng viễn
thông America Movil do ông sáng lập và hiện giữ vai trò Chủ tịch kiêm
Giám đốc điều hành (CEO) đã giảm 14%.
America Movil là nhà mạng
di động lớn nhất khu vực Nam Mỹ. Mới đây, Quốc hội Mexico đã thông qua
một đạo luật nhằm nới lỏng giám sát đối với ngành viễn thông của nước
này. Với luật mới, tỷ phú Slim có thể sẽ buộc phải chia tách America
Movil hoặc áp dụng mức phí thấp hơn, kéo theo lợi nhuận suy giảm. Theo
dự báo của giới phân tích, giá cổ phiếu của America Movil còn có thể
giảm sâu hơn trong thời gian tới.
Trong xếp hạng tỷ phú Bloomberg
Billionaires Index, tỷ phú người Mỹ Warren Buffett, 82 tuổi, tiếp tục
là người giàu thứ ba thế giới. Chủ tịch tập đoàn đa lĩnh vực Berkshire
Hathaway hiện có 60,4 tỷ USD, tăng 12,5 tỷ USD, tương đương tăng 26,1%
từ đầu năm đến nay.
Vị trí giàu thứ tư thế giới hiện đang thuộc
về “đại gia” ngành bán lẻ thời trang châu Âu, tỷ phú Tây Ban Nha Amancio
Ortega. Hiện tại vị tỷ phú 77 tuổi này có 56,7 tỷ USD, giảm 1,3% so với
đầu năm. Ông Ortega là nhà sáng lập kiêm CEO của hãng bán lẻ thời trang
lớn nhất thế giới Inditex với thương hiệu hàng đầu là Zara.
Xếp
hạng tỷ phú Bloomberg Billionaires Index của hãng tin tài chính
Bloomberg ước tính giá trị tài sản của 200 người giàu nhất hành tinh dựa
trên những biến động về kinh tế và thị trường cũng như các bản tin của
Bloomberg News. Giá trị tài sản ròng của mỗi tỷ phú có trong mặt xếp
hạng được cập nhật trong mỗi ngày làm việc vào lúc 5h30 chiều theo giờ
New York và được tính bằng USD
Bill Gates và Steve Jobs qua năm tháng
“Khẩu chiến”
Bill Gates và Steve Jobs qua năm tháng
Với tư cách là đối tác và cũng là đối thủ của nhau, Bill Gates và Steve
Jobs đã xây dựng nên ngành công nghiệp máy tính cá nhân với hai phong
cách hoàn toàn khác biệt.
Steve Jobs xuất thân là một cậu bé thuộc tầng lớp lao động từ bang California, một người tin tưởng vào sự kiểm soát chặt chẽ đối với tất cả mọi sản phẩm, và đề cao vai trò của thiết kế. Trong khi đó, Bill Gates lớn lên trong tầng lớp khá giả ở Washington, là một người tin vào những sản phẩm mở, và chẳng mấy để tâm tới chuyện thiết kế sản phẩm như thế nào.
Trong cuốn tiểu sử Steve Jobs của Walter Isaacson, cựu nhân viên Andy Hertzfield của Apple tiết lộ rằng, Steve Jobs và Bill Gates “ai cũng cho là mình thông minh hơn người kia. Nhưng nhìn chung, Steve xem Bill là một người kém hơn mình một chút, nhất là về phương diện nhãn quan và phong cách. Bill thì coi thường Steve vì Steve thực ra không biết lập trình”.
Bill Gates và Steve Jobs qua năm tháng
►Theo trang Business Insider, trong lịch sử, không có mối quan hệ nào giống như mối quan hệ giữa Bill Gates và Steve Jobs...
Steve Jobs xuất thân là một cậu bé thuộc tầng lớp lao động từ bang California, một người tin tưởng vào sự kiểm soát chặt chẽ đối với tất cả mọi sản phẩm, và đề cao vai trò của thiết kế. Trong khi đó, Bill Gates lớn lên trong tầng lớp khá giả ở Washington, là một người tin vào những sản phẩm mở, và chẳng mấy để tâm tới chuyện thiết kế sản phẩm như thế nào.
Trong cuốn tiểu sử Steve Jobs của Walter Isaacson, cựu nhân viên Andy Hertzfield của Apple tiết lộ rằng, Steve Jobs và Bill Gates “ai cũng cho là mình thông minh hơn người kia. Nhưng nhìn chung, Steve xem Bill là một người kém hơn mình một chút, nhất là về phương diện nhãn quan và phong cách. Bill thì coi thường Steve vì Steve thực ra không biết lập trình”.
Sống sao để lưng đứng thẳng, đầu ngẩng cao
►Trần Bảo Minh bị nhiều người cho là tự cao, hiếu thắng, tiêu tiền theo kiểu nhà giàu, không chung thuỷ...
Trần Bảo Minh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Sữa quốc tế (IDP).
Thành danh với những chiến lược marketing đột phá trong thị
trường nước giải khát của Pepsico, nhưng cuộc đời ông lại mang nhiều
duyên nợ với thị trường sữa. Mỗi cuộc dời đổi của ông và đội ngũ đều để
lại những thành quả đáng kể và cả điều tiếng.
Trần Bảo Minh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Sữa quốc tế (IDP), con người có cá tính mạnh, có khả năng truyền cảm hứng cho đội ngũ, gắn kết chí tình với cộng sự ấy lại bị nhiều người cho là tự cao, hiếu thắng, tiêu tiền theo kiểu nhà giàu, không chung thuỷ…
Khủng hoảng, trầm lắng, nợ xấu, phá sản… đang khiến không khí kinh doanh trĩu nặng, tâm trạng của riêng ông trong những ngày này ra sao?
Ngay cả đến thị trường hàng tiêu dùng được cho là ít bị ảnh hưởng nhất cũng thật tiêu điều. Các nhà phân phối không có tiền để lấy hàng, các điểm bán lẻ nhiều quầy trống trơn vì sức mua giảm nghiêm trọng, họ đâu dám lấy hàng để bán. Một vòng luẩn quẩn kéo thành chuỗi khiến cho nhà sản xuất không ai không lo lắng. Sức mua đang giảm đáng kể, tâm lý người tiêu dùng co cụm là mối lo lớn nhất với các nhà kinh doanh. Thời buổi gì mà không ai có tiền, ai cũng vay nợ! Tiền biến đi đâu hết vậy?
Là người am hiểu thị trường sữa bột, ông có thấy bất công không khi bữa cơm gia đình còn khó khăn chật vật, mà nhiều bà mẹ phải gồng mình mua sữa ngoại cho con với giá cao ngất?
Các thương hiệu nước ngoài hiện đang chiếm ưu thế trên thị trường sữa bột cho bà mẹ, trẻ em, trẻ sơ sinh… về giá trị, niềm tin của người tiêu dùng. Các bà mẹ vì không muốn rủi ro cho đứa con mới chào đời, nên vẫn cắn răng trả giá cao hơn rất nhiều lần so với sản phẩm cùng chức năng của thương hiệu nội địa.
Có bà mẹ thậm chí phải nhịn ăn, nhịn mặc. Nếu kinh tế phát triển tốt, hộp sữa đó có thể chưa là gánh nặng cho mỗi gia đình, nhưng khi mọi thứ đều quá khó khăn, mà sữa – thứ thiết yếu cho con không thể bóp lại được, thì việc các hãng sữa nước ngoài cứ đường hoàng tăng giá quả thật là thiệt thòi lớn cho trẻ em.
Sức
mua đang giảm đáng kể, tâm lý người tiêu dùng co cụm là mối lo lớn nhất
với các nhà kinh doanh. Thời buổi gì mà không ai có tiền, ai cũng vay
nợ! Tiền biến đi đâu hết vậy? Ông Trần Bảo Minh
Nắm bắt tâm lý người tiêu dùng cho rằng giá càng cao thì sữa càng tốt, nên họ vẫn có nhiều đợt tăng giá, ấy là chưa kể chi phí cho phân phối, quảng cáo, lưu thông đến điểm bán ngày càng cao, tạo ưu thế trưng bày la liệt trên các điểm bán, tăng mười mấy phần trăm, người tiêu dùng phải oằn lưng gánh trọn.
Ông vừa nói đến giá trị của niềm tin, phải chăng lòng tin của người Việt đang bị dao động dữ dội, nhất là thị trường sữa bột?
Trong tình hình kinh tế quá khó khăn này, khi thấy có sự tăng giá vô lý như vậy, tại sao Bộ Tài chính, Viện Dinh dưỡng không làm việc trực tiếp với những nhà sản xuất sữa bột nước ngoài, để đưa sữa bột chất lượng cao về Việt Nam với mức lợi nhuận thấp nhất, nhằm giúp cho hàng triệu bà mẹ? Tôi nghĩ làm được vậy có thể cắt giảm 20 – 30% so với giá hiện nay cho sữa có cùng nguồn gốc.
Các cơ quan chức năng của Nhà nước hoàn toàn có thể cùng các chuyên gia dinh dưỡng kiểm tra trực tiếp từ đầu nguồn về công thức và chất lượng. Tại sao không bay thẳng qua Mỹ, Úc tìm hiểu, vì thành phần trong sữa chẳng có gì bí mật cả. Như vậy bảo đảm doanh nghiệp không thể “bốc phét”, cộng quá nhiều lợi nhuận vào giá thành. Nếu họ không tự giác giảm lợi nhuận, mình phải có cách buộc họ đưa giá về với giá thật chứ.
Với một thị trường sữa bột trị giá mấy chục ngàn tỉ đồng, 90% bà mẹ Việt Nam không giàu, nếu tiết kiệm được vài ngàn tỉ cũng là tiết kiệm cho nguồn lực quốc gia.
Chúng ta cứ bị mất trước mất sau, đã nghèo còn phải làm giàu cho tư bản nước ngoài… Nhưng nếu một doanh nghiệp đứng ra phát động, lơ mơ bị coi là phá giá, bị “ném đá” liền.
Làm một việc có ý nghĩa với hàng triệu bà mẹ, sao ông lại sợ bị “ném đá”?
Tôi cũng bỏ nhiều thời gian tìm hiểu thị trường sữa bột, và muốn làm điều gì đó, nhưng sau nhiều lần bị “ném đá” tôi cũng chùn chứ. Có nhiều thứ đáng sợ quá. Ngày xưa, tôi không biết sợ là gì, nhưng khi chương trình “Gắn kết yêu thương” bị đánh, dù mình làm nghiêm túc, tôi tự hỏi liệu mình có chịu nổi không? Nếu làm thì phải làm như thế nào? Đó là điều phải suy nghĩ. Tránh đụng chạm thì hèn quá.
Phải nói mình hơi nhát, vì tôi biết sẽ đụng chạm lớn đến mấy ông tài phiệt. Thân bại danh liệt đã đành, nhưng mình có vợ con... Phá bỏ nồi cơm, lợi nhuận của ai đó chắc chắn sẽ bị “ném đá”, bị chọc ngoáy, cuộc sống của mình không yên được. Bất công nằm ở chỗ đó.
Cũng có người nói làm thế là đi ngược với nguyên tắc thị trường, hãy để thị trường tự nó điều phối. Tôi từng làm công ty nước ngoài, tôi hiểu hơn ai hết về thị trường, nhưng đối với một số sản phẩm, không thể dùng nguyên tắc tối ưu hoá lợi nhuận, đặc biệt là với sữa cho trẻ dưới sáu tuổi. Đó là sản phẩm thiết yếu, bắt buộc, không có sự lựa chọn nào khác, dùng phương pháp tối ưu hoá là tội ác.
Nhà nước phải cùng Hiệp hội sữa, Bộ Tài chính và các chuyên gia dinh dưỡng uy tín nhất đấu thầu công thức chất bổ sung xuất sắc nhất cho trẻ em Việt Nam, lúc đó khỏi cần năn nỉ mấy ông nước ngoài để tạo ra giá trần, đó mới thực sự là vì bà mẹ và trẻ em. Tại sao chứng khoán làm giá trần mà sữa lại không?
Các nhà sản xuất nội địa hiện đang nắm giữ thị trường sữa tươi, nhưng cuộc cạnh tranh này có vẻ chưa thật sòng phẳng với người tiêu dùng, khi đưa ra các thông điệp khá mù mờ: nào là sữa tiệt trùng, sữa sạch, sữa hoàn nguyên…?
Nhà sản xuất phải ghi rõ trên bao bì theo quy định của Nhà nước, chỉ do người dân chưa phân biệt được thôi. Người tiêu dùng miền Bắc có vẻ thông thạo hơn trong việc chọn sữa tươi, còn người miền Nam thường dễ tính, cứ nghĩ sữa nước là sữa tươi.
Về thị trường sữa tươi, có hai vấn đề. Để tránh sự nhập nhèm giữa sữa tươi thanh trùng và sữa tiệt trùng, cần phải hiểu sữa tiệt trùng là lấy từ sữa bột hoàn nguyên chế biến thành sữa nước, thường rẻ hơn sữa tươi. Làm sữa tươi là phải phát triển trang trại bò, hoặc hỗ trợ nông dân nuôi bò, sữa sản xuất ra bao nhiêu phải thu mua hết bấy nhiêu, không thể như sữa bột mua về có thể tồn kho ba tháng.
Từ trước đến nay, sữa tươi phần lớn là do công ty Việt Nam làm, các công ty nước ngoài chỉ là “biểu diễn”. Tôi về TH Milk, và bây giờ là IDP, cũng là để thực hiện ao ước được làm sữa tươi Việt Nam. Mua sữa bột về làm cũng chỉ là kinh doanh sản phẩm thôi. Bỏ qua tính hiệu quả, ước nguyện của tôi là phát triển đàn bò, hỗ trợ nông dân có một tương lai tốt đẹp.
Kinh tế Việt Nam muốn phát triển phải dựa vào nông nghiệp. Nếu các sản phẩm sữa và chế biến từ sữa tươi như phômai, kem, yaourt… đều từ sữa tươi Việt Nam thì rất nhiều nông dân hưởng lợi, nâng giá trị đầu vào cho nông dân.
Vì sao sau một thời gian gắn bó, ông lại mau chóng chia tay với Vinamilk, TH Milk? Phải chăng vì ông không thực hiện được chỉ tiêu như cam kết ban đầu, hay do các ông chủ không chia sẻ được ước nguyện với anh?
Chúng tôi chia sẻ được với nhau nhiều về ước nguyện, vấn đề là bước đi cụ thể, thời gian và mức độ đầu tư luôn là cái phải bàn thảo nhiều nhất. Khác biệt giữa các ông chủ nước ngoài và ông chủ Việt Nam chỉ do tiềm lực thôi.
Doanh nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu xa nhưng lại đòi thắng nhanh bằng mọi giá, còn nước ngoài do tiềm lực hùng hậu, có thể chấp nhận cho một thương hiệu đủ thời gian tạo chỗ đứng, đi những bước chậm nhưng chắc - họ nhìn mục tiêu rất xa.
Không nói ai đúng ai sai, vấn đề là tư duy. Tôi rất ghét những ông chủ suốt ngày làm ra những sản phẩm rẻ tiền, phải hướng đến sản phẩm chất lượng chứ. Nền kinh tế phải hướng tới những sản phẩm tạo ra môi trường sống tốt đẹp hơn, đừng chạy theo giá rẻ mà gây ra những sản phẩm có hại cho sức khoẻ, tàn phá môi trường.
Từng bị cho là người tự cao, hiếu thắng, tiêu tiền theo kiểu nhà giàu… nhìn lại quá trình kinh doanh, ông có thấy đạo đức kinh doanh của mình cũng bị thử thách rất lớn bởi áp lực lợi nhuận?
Quả thật thời trẻ tôi là người rất háo thắng, luôn chạy theo mục tiêu, sáng tạo bằng bản năng tự nhiên. Ba mươi tuổi, tôi cũng chưa nghĩ sâu sắc lắm. Nếu lúc ấy một công ty thuốc lá nào trả cao tôi cũng sẽ làm. Nhưng đến giờ phút này, dù có trả cao mấy tôi cũng không bao giờ làm ngành nào ảnh hưởng tới sức khoẻ con người. Đó là thay đổi rất lớn.
Suy nghĩ của tôi về những giá trị sống thay đổi rất nhiều từ khi có vợ, có con. Phải làm gì cho con người, cho xã hội tốt đẹp hơn để con tôi có thể tự hào. Xưa có một mình, làm gì cũng làm bằng mọi giá, bất chấp, giờ có con, yêu thương con nên tôi muốn con mình sẽ không gặp phải những sản phẩm độc hại.
Từng bị mang tiếng là người “không thuỷ chung”, với ông thất bại nào là lớn nhất?
Tôi may mắn dữ lắm mới có thể vượt qua những khúc quanh tưởng chừng gục ngã. Nhưng số phận đẩy đưa, cánh cửa này khép lại, lập tức có cánh cửa khác mở ra, thất vọng lại mở ra hy vọng. Cuộc đời làm thuê của tôi chưa từng bị ai ép, ai bắt… để nhận được đồng tiền.
Làm được điều đó rất khó, vì thực tế, biết bao người làm thuê phải làm điều mình không muốn, điều mình cho là không đúng từ năm này qua năm khác, để nhận được đồng lương, để mua được nhà này, xe nọ... bản thân điều đó đã là một cực hình trong cuộc sống, là chết nửa đời người. Nhận được một cục lương lớn mà phải hy sinh sự tự trọng, tự tôn của bản thân, bao nhiêu tiền để “dán” lên vết thương đó cũng không đủ…
Lúc này, hạnh phúc nhất với tôi là khi mình không còn quan tâm đến tiền nữa. Giá như có một ngày mình thức dậy trong ngôi nhà nhỏ ở làng cổ Đường Lâm, ngồi thảnh thơi đọc báo, câu cá... Sống theo ý mình muốn, an nhiên tự tại, thật với bản thân, không bị ai hỏi đang làm gì, làm như thế nào… đó mới là cuộc sống. Sống sao để lưng đứng thẳng, đầu ngẩng cao là khó nhất.
Tôi
sợ tình trạng ghét thằng anh thì không thể thương thằng em. Mình ra đi
nhưng lính của mình ở lại sẽ thế nào? Liệu họ có được sử dụng theo đúng
tài năng không? Ông Trần Bảo Minh
Vì sao những cuộc ra đi của ông thường kéo theo cả một êkíp, gây nhiều hệ luỵ không nhỏ cho doanh nghiệp và người ở lại?
Tôi sợ tình trạng ghét thằng anh thì không thể thương thằng em. Mình ra đi nhưng lính của mình ở lại sẽ thế nào? Liệu họ có được sử dụng theo đúng tài năng không? Các bước đi phải bảo đảm lương bổng không gián đoạn để anh em còn nuôi vợ nuôi con nữa chứ, đó là cả một vấn đề phải quan tâm đến từng chi tiết.
Cũng không thể một mình giải quyết, phải có đồng đội, tổ chức tin cậy để bất cứ khi nào có thể là gọi qua ngay. Sự chuẩn bị chu đáo ấy phải làm bằng cái tâm, không phải vì sự an toàn bản thân. Tôi sẵn sàng bỏ nơi có lương bổng cao, nổi tiếng hơn về làm ở một công ty lợi nhuận ít hơn để anh em cùng tham gia được với nhau…
Tôi không nói anh em phụ thuộc vào mình. Anh em toàn người giỏi về giúp mình, không phải vì tiền. Để có một đội ngũ như thế lúc này đâu dễ. Tự mình cảm thấy có trách nhiệm với họ thôi, nên mỗi chuyến đi là cả một cuộc chuyển binh tốn rất nhiều công sức, trí lực để cân nhắc xem ai cần đi, ai có thể ở lại. Hệ luỵ của nó khiến bản thân tôi có lúc mệt quá, chỉ muốn ngồi câu cá!
Giữ được tình người, tình đồng đội trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt dường như quá khó?
Khi tôi chuyển sang một công ty khác, từng có giám đốc cấp cao ở công ty cũ đã không dám nghe điện thoại của tôi, thậm chí không dám gặp mặt vì sợ bị “đì”, dù trước đó chính tôi đưa anh ấy vào công ty, cất nhắc lên chức này chức nọ.
Công ty chỉ gắn bó với ta bởi một bản hợp đồng có thời hạn, còn tình cảm anh em mới là vô thời hạn. Đã từng cùng nhau vượt qua bao thử thách khó khăn, vậy mà sao lại phải sợ cả một lần uống càphê với nhau? Nhiều khi người ta để tiền bạc lấn át cả tình anh em, mối quan hệ giữa con người và con người, điều đó làm tôi đau buồn nhất. Như thế làm sao lưng đứng thẳng, đầu ngẩng cao được.
(Nguồn: Sài Gòn Tiếp thị)





















